Monday, October 30, 2023

Flirting Fontane

Khi nói đến Bố già ở Việt Nam thì một cuộc tranh cãi thường gặp sẽ nổ ra xung quanh các bản dịch. Fan của Ngọc Thứ Lang đông nhất. Thứ đến là fan của Đoàn Tử Huyến. Hay đúng hơn là anti-fan của Ngọc Thứ Lang. Thi thoảng cũng có người thích bản Đặng Phi Bằng.

Cuối tuần rảnh rỗi ngồi xem hai bản dịch, cũng thấy khá nhiều điều thú vị.

Khi đọc Bố già, đoạn tôi thích nhất lại không liên quan đến Vito hay Michael. Mà là đoạn Johnny Fontane đưa em Sharon Moore về nhà chơi. Một phần có lẽ vì tôi mê những crooner như Frank Sinatra, mà Johnny thì được khá nhiều người đồn là lấy nguyên mẫu từ Frank.

Do vậy nên tôi chọn đoạn này để đối chiếu. Thực ra không chỉ đơn giản là đối chiếu mà còn để thưởng thức lại một đoạn văn hay, được Puzo tả rất khéo léo tinh tế, xứng đáng gọi là tuyệt tác về nghệ thuật à ơi, và cả về đạo hạnh của một gã lãng tử phong tình. Bữa tối của anh ả thật ra giống một ván cờ, mỗi người đều có tuyệt chiêu, và buồn thay cuối cùng cả hai đều thất bại.

Do không có bản cứng nên tôi dùng tạm các bản ebook trên mạng, hy vọng là đúng và đầy đủ. Nếu có chỗ nào thiếu hoặc không chính xác dẫn đến nhận định sai thì mong bà con chỉ giáo.

 

His invitations to dinner were always famous and had the force of royalty and of course she said yes.

NTL: Johnny Fontane mời về nhà chơi thì còn hân hạnh nào bằng!

ĐTH: Được Johnny Fontane mời về nhà thì còn vinh hạnh nào bằng.

Thực ra câu này NTL dịch thiếu ý đầu tiên: những lời mời ăn tối của Johnny vốn nổi tiếng khắp Hollywood. Ý câu này là bữa tối chỉ là tiền đề cho bữa chịck. Văn phong của NTL thường lược dịch, nên chuyện này cũng không có gì là lạ. Cái lạ là bản ĐTH cũng gần như giống hệt và cũng lược bỏ y như vậy.

 

He made a little small talk with her, found out about what she had been like as a kid, whether she had been a tomboy or boy crazy, whether she had been homely or pretty, lonely or gay. He always found these details touching, it always evoked the tenderness he needed to make love.

NTL: Hai đứa nói chuyện tâm tình, chuyện lăng nhăng… toàn những chuyện ngày xưa chuyện xấu đẹp, vui buồn…

ĐTH: Hai đứa nói chuyện lăng nhăng không đầu không đũa, hết chuyện sắc đẹp lại chuyện vui buồn...

Tương tự, đoạn này NTL lược khá nhiều. Kỹ thuật tán gái của anh Johnny là tỏ ra quan tâm đến em, hỏi chuyện em hồi bé ra sao, nghịch như con trai hay mê trai, nhu mì hay xinh xắn, hòa đồng hay cô độc. Nhưng gã làm vậy không đơn giản để lấy cảm tình với gái, mà vì gã cần cái đó để thấy gần gũi, hiểu em hơn, từ đó mới mềm lòng, để gợi hứng trước khi vào cuộc yêu (câu này hai bản đều bỏ, chắc vì tự kiểm duyệt do trái thuần phong mỹ tục quá). Nhưng đây là cái bỏ rất đáng tiếc, vì nó hé lộ bi kịch tâm lý của Johnny, sau đó sẽ được Puzo phơi bày trọn vẹn và khá tàn nhẫn.

Cái lạ là bản ĐTH cũng lược y hệt như bản NTL không khác chút nào.

 

He kissed her on the lips, a cool friendly kiss, and when she kept it that way he left it that way.

NTL: Johnny khe khẽ hôn môi. Em nhận cái hôn nhưng không thích tiến thêm thì tạm thời cứ sơ sơ mé ngoài vậy đó.

ĐTH: Johnny khẽ hôn môi. Cái hôn thì em nhận, nhưng chỉ sơ sơ vành ngoài thế thôi, tiếp theo xin miễn.

NTL lại lược một chút, nhưng vẫn giữ được tinh thần bản gốc: Johnny chủ động và không hề vội vàng. Em chưa vồ vập thì gã cũng thong thả. Câu của ĐTH dịch như vậy bị sai về ẩn ý: hóa ra Sharon chủ động. Tất nhiên Sharon có chủ động (đọc tiếp sẽ thấy), song cái chủ động của em vẫn nằm trong sự chủ động của chính Johnny. Dịch như thế này bị quá tay, nói cách khác là cầm đèn chạy trước ô tô, vì đây mới là những giây phút đầu tiên của cuộc à ơi, nếu cô bé đã quyết liệt như thế thì đến đây là giải tán luôn còn cần gì phải bàn nữa.

 

When he had been younger, he had done just such things (singing) and the result had always been stagy, the girls trying to look sexy and melting, making their eyes swim with desire for an imagined fantasy camera.

NTL: Johnny bật cười. Hồi còn trai trẻ… cái mục “anh hát em nghe” này nó biểu diễn biết bao nhiêu lần! Giọng cao cất lên là các em rạo rực bằng thích, giở hết điệu bộ màu mè con gái, mắt sáng lên như đâu đây có sẵn máy quay phim.

ĐTH: Johnny bật cười. Hồi nào cái khoản anh hát tặng em này hắn đã diễn mãi rồi. Cái giọng tenor của hắn cất lên là các em đã nực cả người, õng ẹo giở hết điệu bộ, mắt sáng như đèn ô tô, cứ như sắp lên phim không bằng.

Cơ bản không có gì đặc biệt, ngoài một chi tiết: bản gốc không hề nói đến chất giọng của Johnny. NTL dùng chữ “giọng cao,” còn ĐTH dùng hẳn “giọng tenor.” Những sự trùng hợp từ đầu đến giờ làm tôi có cảm giác ĐTH không dịch thẳng từ bản gốc mà dựa vào bản của NTL để biên tập lại.

 

He got up to give her a refill on her brandy glass, gave her a gold-monogrammed cigarette

NTL: Nó đứng dậy rót rượu thêm cho em, đưa điếu thuốc chữ vàng bật lửa cho em mồi.

ĐTH: Hắn đứng dậy rót thêm rượu cho cô bé, châm cho cô ta điếu thuốc lấy trong hộp thuốc khắc chữ vàng.

Gold-monogrammed cigarette là thú chơi sang của giới nhà giàu ngày xưa, là phủ vàng vào đầu điếu thuốc và khắc chữ viết tắt tên của chủ nhân (monogram). Câu này NTL dịch đúng còn ĐTH dịch sai. Câu hỏi đặt ra là nếu dịch từ bản gốc thì làm sao mà sai cái đơn giản thế được? Hay là ĐTH đọc bản NTL và cảm thấy điếu thuốc chữ vàng vô lý quá, chắc phải là hộp khắc chữ vàng mới đúng, nên sửa lại như vậy chăng?

 

The last two years had been hell on his ego, and he used this simple way to restore it, sleeping with a young fresh girl for one night, taking her to dinner a few times, giving her an expensive present and then brushing her off in the nicest way possible so that her feelings wouldn’t be hurt.

NTL: Vì hai năm nay nó quá phung phí sức lực, cần có hơi men hỗ trợ. Hai năm nay cứ thấy em nào vừa mắt là mời đi ăn nhậu du dương vài hôm, rồi tặng em món quà đích đáng để… cho em de cái một, khỏi lộn xộn.

ĐTH: Đó là vì hai năm nay Johnny đã phung phí quá nhiều sức lực, thấy em nào sạch nước một tí là chớp ngay, du dương vài hôm, tặng em một món quà rồi cho đi tàu suốt.

Đoạn này cả hai đều dịch sai câu đầu. Vấn đề của Johnny hai năm vừa rồi không phải (hoặc không đơn giản) là yếu sinh lý, vì yếu sinh lý thì làm sao mà liên tục đi mò gái trẻ như câu sau được. Hai năm rồi Johnny bị mất giọng, bị vợ coi thường, không đắt show như trước (phải nhờ Bố già vận động xin vai của Woltz), bởi vậy lòng tự tôn (ego) của gã bị tổn thương nặng nề (hell). Cho nên gã lấy việc đi chơi với các em gái trẻ như một cách để khôi phục tự tôn (restore it). Tất nhiên tâm lý ấy cũng ảnh hưởng đến mức độ hưng phấn của gã, song gói gọn vấn đề vào YSL thì hoàn toàn sai. Tiếp đó cả hai bản dịch đều bỏ qua câu cuối, do vậy không làm toát lên được sắc thái “nice guy” của Johnny: gã cố lựa cách mềm mại ngọt ngào êm ái nhất để chia tay, cốt để các em khỏi tổn thương.

 

NTL: Bàn tay Johnny tự động chạy theo đường cũ, quen lệ rồi… Dĩ nhiên phản ứng mỗi đứa mỗi khác. Có đứa làm như không hề hay biết, chẳng hề cảm thấy có sự đụng chạm giữa lúc đang hôn mải miết đam mê. Có đứa giật mình, uốn cong người. Có đứa vùng cho anh vài cái tát tai, nhất là hồi Johnny còn chưa có tên! Đó là cả một công trình, cả một kĩ thuật.

Cứ bảo NTL giang hồ Chợ Lớn thế nào mà đọc đến đoạn này cũng đỏ mặt, vội vàng dịch quấy quá cho xong, cắt đi bao nhiêu chi tiết. Song ít ra NTL vẫn còn dịch gần đủ. Bản ĐTH lẫn bản Đặng Phi Bằng đều bỏ cả. Thôi, thời các cụ, khó tránh.

 

She was saying something very sweetly, very lightly. “It’s not that I don’t like you, Johnny, you’re much nicer than I thought you’d be. And it’s not because I’m not that kind of a girl. It’s just that I have to be turned on to do it with a guy, you know what I mean?”

Johnny Fontane smiled at her. He still liked her.” And I don’t turn you on?”

She was a little embarrassed. “Well, you know, when you were so great singing and all, I was still a little kid. I sort of just missed you, I was the next generation. Honest, it’s not that I’m goody-goody. If you were a movie star I grew up on, I’d have my panties off in a second.”

NTL: Giọng Sharon thật ngoan và dễ thương:Không phải tại em không thích anh đâu. Anh dễ thương hơn em tưởng nhiều! Cũng không phải em sợ hay chưa thử, nói thực đấy. Em phải bốc mới thấy hứng, còn không thì…

Và anh không làm em bốc?Johnny mỉm cười hỏi, coi bộ chẳng có gì buồn hết làm con nhỏ lúng túng. “Sự thực thì hồi anh lên… em còn nhỏ xíu. Em mê giọng ca, mê anh đóng phim lắm chớ? Mê lắm lắm… nhưng có điều mình không cùng một thế hệ. Phải chi mình cùng một trang lứa thì xong ngay.

ĐTH: — Không phải tại em không thích anh đâu. Anh dễ thương hơn em tưởng nhiều đấy? Cũng không phải em sợ hay còn bỡ ngỡ chưa quen, chẳng qua em không thấy hứng, - cô bé nói thỏ thẻ.

Anh đúng là thằng vét đĩa, phải không?Johnny hỏi đùa, xem ra không có vẻ gì thất vọng lắm làm cho Sharon lúng túng.

Thật ra lúc anh đang lên thì em còn bé, cô ta nói. Em mê giọng hát của anh, mê anh đóng phim lắm. Có điều không phải lứa chứ không thì xong ngay.

Đoạn này phải nói là NTL dịch xuất sắc. Bẽn lẽn ra bẽn lẽn, trìu mến ra trìu mến, độ lượng ra độ lượng. Câu “thằng vét đĩa” của ĐTH tưởng hay mà thực ra là hỏng. Johnny Fontane là loại thế nào? Cả ngàn em gái đã qua tay gã. Gái nào gã cũng gặp rồi. Câu “And I don’t turn you on” của gã vừa trực diện, thẳng thắn nhưng vẫn bao dung và không hề có tí tự ái nào, chỉ hơi đùa bỡn làm khó em gái. Dùng một thành ngữ hơi có chút châm biếm như ĐTH, thực ra lại là rắc gia vị quá tay.

 

He didn’t like her quite so much now. She was sweet, she was witty, she was intelligent. She hadn’t fallen all over herself to screw for him or try to hustle him because his connections would help her in show biz. She was really a straight kid. But there was something else he recognized. It had happened a few times before. The girl who went on a date with her mind all made up not to go to bad with him, no matter how much she liked him, just so that she could tell her friends, and even more, herself, that she had turned down a chance to screw for the great Johnny Fontane. It was something he understood now that he was older and he wasn’t angry. He just didn’t like her quite that much and he had really liked her a lot.

NTL: Nghe nó nói, Johnny không thấy ham mấy nữa. Con nhỏ duyên dáng, láu lỉnh thật. Nó không mê anh Johnny đến độ hiến dâng hay sẵn sàng nạp thuế thịt để tiến thân sau này. Nó là thứ đàng hoàng. Nó không như con nhỏ hồi nào, đi với nhau lu bù nhưng đã nuôi sẵn định ý. Có ham đến mấy cũng từ chối để tự hào với mình hay với chúng bạn: “Biết sao không? Johnny Fontane mê tao, gạ tao quá xá… nhưng tao thèm vào!”

ĐTH: Nghe vậy Johnny liền sang số lùi. Cô bé xinh xắn, nhí nhảnh thật. Cô là loại gái chính chuyên, không phải dễ dàng hiến thân hay sẵn sàng nộp thuế thịt để sau này còn leo, không như bọn cứ bám kè kè bên hắn nhưng chỉ để lợi dụng chứ chẳng có tình nghĩa quái gì cả, cũng không phải làm cao để sau này đi khoe: “Johnny Fontane xin chết nhưng tao thèm vào".

Đoạn này NTL dịch sai một ý mấu chốt. Johnny nhận ra Sharon giống một số em gái gã từng gặp: đến cuộc hẹn với quyết tâm từ chối gã để lấy số má và ve vuốt lòng tự tôn của chính mình. Chứ không phải là em Sharon này khác mấy em gái “đã nuôi sẵn định ý” như NTL dịch. Có như vậy thì nó mới hợp với đoạn sau khi Johnny đùa là anh sẽ viết giấy xác nhận cho em về vụ này để em được thỏa lòng. Lạ thay, ĐTH cũng dịch sai tương tự.

 

NTL: Cảm ơn anh! Mai sau về già biết đâu chừng em chẳng có quyền kể lại cho đám con cháu nghe rằng ngày xưa đã có lần tao và Johnny Fontane hai đứa ở với nhau một phòng gần trọn đêm và chẳng có gì xảy ra.

Chẳng có gì xảy ra vì tao nhất định không chịu.” “Nhất định… là chúng nó khỏi tin! Hứng chí Johnny khôi hài, “Không tin thì để anh cấp cho em cái giấy chứng nhận? Viết tay đàng hoàng.Con nhỏ lắc đầu cười. Johnny tiếp, “… Hay có thằng nào dám nghi ngờ lời em thì em phôn cho anh một cú? Anh sẽ vạch mặt chúng! Anh sẽ bảo rằng anh đã rượt bắt em cả đêm trong phòng mà em nhất định không chịu là không chịu.

Đùa quá hóa ác thật! Con nhỏ hơi nhăn mặt khiến Johnny biết ngay là đã đi quá lố. Nói như vậy có khác nào bảo thẳng nó rằng tại tao không muốn nên không thèm gạ gẫm tới, bằng không mà phải bị rơi? Hay vì mày người ngợm chẳng ra gì nên tao không thèm? Nghĩa là nếu có kể lại con cháu nghe thì phải thêm vô: “Tao còn giữ gìn được hôm đó vì Johnny coi bộ không tha thiết lắm.” Cảm thấy hơi thương hại, nó vỗ về con nhỏ, “Đùa đấy thôi em! Có phải cứ đụng gặp cô nào là làm cô ấy đâu? Có chuyện gì cần đến em cứ phôn cho anh một cú.

Sharon chỉ “Dạ” rồi rút lui.

Đoạn này không nhiều cái cần so sánh. Tôi chỉ trích lại bản NTL để mọi người tiện theo dõi diễn biến và cái kết.

Ta thấy rõ ràng đây là một ván cờ. Anh Johnny là kỳ thủ lão luyện, thân trải trăm trận. Em Sharon thì cũng như Beth Hammon trong Queen’s Gambit, mới vào nghề nhưng kỳ lực chẳng vừa. Johnny có kiểu thong thả thuận tự nhiên, binh đến tướng ngăn, ung dung coi xem em nó thế nào. Nước lên thì thuyền lên, mà nếu nước cạn thì ta về nghỉ, cũng chẳng hề gì. Anh Johnny thương em mến em chiều em, nhưng không thể để em ca khúc khải hoàn dễ dàng như thế. Em dám đơn đao phó hội thì cũng phải để lại chút gì. Và chút gì đó chính là lòng tự tôn của em. Nhưng Johnny cũng chẳng hơn gì, em về rồi để lại anh trống rỗng và hư thoát. Anh không thèm thịt mà chỉ thèm hơi người. Cho nên anh lại tìm đến tâm sự với Ginny, cô vợ cũ.

 

Tóm lại đọc xong một hồi thì thấy Ngọc Thứ Lang vẫn là Ngọc Thứ Lang mà chúng ta hằng biết. Ngôn ngữ tự nhiên, thậm chí suồng sã, không câu nệ vào bản gốc. Có chất giang hồ rõ rệt. Tuy lược bỏ chỗ này chỗ kia nhưng tinh thần câu chuyện vẫn được bảo tồn. Nói chung nếu tay không bắt giặc, tức là chỉ nhìn bản gốc mà dịch ra được như ông thì hơi bị khó đấy.

Điều bất ngờ lại là bản Đoàn Tử Huyến. Có khá nhiều chỉ dấu cho thấy bản Đoàn Tử Huyến thực ra chỉ là sửa lại bản Ngọc Thứ Lang cho giọng văn Bắc hơn và hiện đại hơn:

(i) Thường bản dịch sau bao giờ cũng “tranh hơn” với bản dịch trước bằng cách bổ khuyết những chỗ bản trước không dịch. Với NTL thì làm điều đó không khó vì NTL lược khá nhiều. Thế nhưng bản ĐTH lại không thêm gì, chỗ nào NTL không dịch thì ĐTH cũng không dịch. Như vậy khả năng là không (hoặc rất ít) đối chiếu bản gốc.

(ii) Chỗ nào NTL dịch sai thì ĐTH cũng dịch sai.

Với một người có văn tài như ĐTH thì việc sửa lại bản NTL để ra một bản dịch khác nghe cũng xuôi, cũng ổn, và vừa miệng độc giả Bắc hơn không có gì là khó. Nhưng nếu xét công lao bỏ vào bản dịch thì không đáng kể và giá trị gia tăng không nhiều. Ai thích bản này thì cứ thích thôi, nó là vấn đề khẩu vị. Nhưng nếu vì thích bản này mà phủ nhận bản NTL, hoặc ngược lại là nếu vì anti NTL mà đi ca tụng bản này, thì kể cũng hơi buồn cười.

Sunday, June 21, 2020

Bạn tốt và bút sắc

 

Nếu được hỏi sẽ chọn cuốn sách nào để tặng cho một nhà báo nhân ngày Báo chí Việt Nam, câu trả lời của tôi sẽ là Charlotte’s Web.

Câu trả lời này, hẳn sẽ làm khá nhiều người ngạc nhiên. Charlotte’s Web? Một cuốn sách dành cho thiếu nhi?

Năm hai ngàn lẻ tám, tôi đọc Charlotte’s Web lần đầu tiên, khi ngồi tại Creperie trên đường Hàn Thuyên. Khi đó, tôi đang học thạc sĩ báo chí ở Melbourne, về Sài Gòn chơi và ngồi đợi một cô gái. Tuy lúc đó chưa hề biết cô gái mình đang đợi sẽ là người phụ nữ dành cho tôi, nhưng ngay từ lúc đó, tôi đã cảm thấy đây thực sự là cuốn sách kinh điển dành cho người làm báo.

Bởi nó là cuốn sách của một bậc thầy trong nghề báo. Elwyn Brooks White, sinh năm 1899, mất năm 1985, là cây bút kỳ cựu của The New Yorker gần sáu mươi năm, là tác giả của The Elements of Style, cuốn sách nhỏ đã bán được 10 triệu bản và sau ba lần tái bản đã gần như trở thành Kinh Thánh về cách viết tiếng Anh trên đất Mỹ.

Charlotte’s Web kể về tình bạn giữa cô nhện Charlotte và chú lợn Wilbur. Khi Wilbur có nguy cơ bị ông chủ làm thịt, Charlotte đã viết chữ lên mạng nhện của mình trong nhà kho để thu hút sự chú ý của công chúng, và nhờ vậy cứu cậu thoát chết.

Trẻ con và người lớn sẽ yêu Charlotte’s Web theo cách của riêng mình, nhưng những người làm báo chắc chắn sẽ yêu cuốn sách vì thấy nghề nghiệp của mình trong đó.

Bởi tấm mạng nhện của Charlotte, dưới ngòi bút của White, đã thành ẩn dụ về báo chí và về sức mạnh khôn lường của nó: cứu mạng Wilbur và biến cậu từ một con lợn cọc thành ngôi sao ở chốn đồng quê. Charlotte chính là hình ảnh điển hình của một biên tập viên – sắc sảo, hài hước, tàn nhẫn, và có biệt tài ngôn ngữ. Khi mọi xôn xao về dòng chữ đầu tiên (SOME PIG) trên mạng nhện đã lắng xuống, Charlotte triệu tập các con vật trong nông trại để tìm chữ mới. Trước gợi ý của ngỗng (Terrific, terrific, terrific), Charlotte gọt giũa đề xuất này thành một phương án ngắn hơn, có sức nặng hơn: TERRIFIC. Đấy chẳng phải là một ví dụ kinh điển về đời biên tập đó ư? Và chẳng phải ngẫu nhiên mà vai Charlotte lại là nữ. Người bạn đời gần nửa thế kỷ của White, Katherine Sergeant, hơn ông bảy tuổi và là người tuyển mộ ông vào The New Yorker, chính là biên tập viên hàng đầu của tờ tạp chí từ khi thành lập và nhân vật chủ chốt gây dựng nên uy tín của nó ngày nay. Trong những tên tuổi từng đi qua bàn tay biên tập của bà, có thể kể đến Nabokov hay John Updike. Ở Charlotte, ta thấy bóng dáng người vợ, người chị và người đồng nghiệp của White – bài thơ đầu tiên ông viết tặng vợ sau ngày cưới là bài thơ về con nhện. Nếu nhìn lại cuộc lên ngôi của internet, chữ Web của White quả thực là một lời tiên tri chính xác từ nửa thế kỷ trước về tương lai của báo chí ngày nay.

Không dừng lại ở đó, câu chuyện chọn chữ của Charlotte còn là câu chuyện về nỗ lực của báo chí nhằm duy trì quan tâm của dư luận. Hơn ai hết, cô nhện này hiểu sâu sắc công chúng khi nhận xét “người ta tin hầu hết mọi thứ họ thấy trên báo,” nhưng cũng rất tỉnh táo khi biết vòng đời của tin tức rất ngắn ngủi, và nếu không tiếp tục thu hút được sự chú ý thì Wilbur khó lòng được an toàn. Thế nên khi mới quyết định dệt chữ thứ hai, “Terrific,” Charlotte đã sớm giao nhiệm vụ cho con chuột Templeton tiếp tục đi tìm nguồn tin cho những “số báo” sau. Chữ thứ ba được Charlotte sử dụng chính là do Templeton mang về – một mẩu quảng cáo nhặt từ bãi rác, một dụ ngôn của White, nhắn nhủ với ta rằng trong rác vẫn có thể có vàng, và không từ nào là bỏ đi cả, nếu ta biết cách dùng.

Một nguyên tắc làm báo bất di bất dịch của Charlotte là danh phải xứng với thực. Nói cách khác, Charlotte không nói láo. Những chữ cô dệt để ca ngợi Wilbur, căn bản đều phản ánh chính xác phẩm chất của cậu. Khi Wilbur còn là một con lợn còi, Charlotte dùng chữ cũng rất tiết chế. Phải tới khi cậu đã trổ mã, đã khỏe đẹp hơn, cô mới mạnh dạn dùng những chữ oách hơn. Nhưng chữ cuối cùng, then chốt, tạo đột phá, xác lập vị thế vĩnh viễn cho Wilbur trong nhà Zuckerman lại không phải là một chữ tán tụng ngoại hình, mà là một chữ hết sức khiêm nhường để ca ngợi tính cách của chú. Tuyệt chiêu chuyển bại thành thắng này hẳn sẽ là bài học đáng nhớ với mọi người làm báo. Và quả thực, cái cách Charlotte nói chuyện, cách cô điềm đạm giải nghĩa từng từ khó, bình thản nhận xét về cuộc sống, hay châm biếm bình phẩm một điều gì, tất thảy đều toát lên vẻ minh triết và lịch duyệt của một nhà báo lão thành.

Điều đặc biệt nhất ở Charlotte’s Web có lẽ là tính hiện thực đến tàn nhẫn của nó, một đặc điểm rất điển hình trong báo chí nhưng lại rất không điển hình với một tác phẩm dành cho thiếu nhi. Hiếm có câu chuyện trẻ em nào lại bắt đầu bằng một câu văn gây sốc như thế: “Bố cầm rìu đi đâu thế nhỉ?” Bắt đầu bằng nỗi ám ảnh của cái chết và kết thúc bằng một cái chết, câu chuyện đã khiến biết bao thế hệ độc giả phải thẫn thờ. Ấy thế nhưng Charlotte’s Web vẫn đứng đầu trong danh sách những cuốn sách yêu thích của trẻ em. Đó là bởi White, bằng ngòi bút điềm tĩnh của mình, đã biến cái chết thành một phần tự nhiên và tất yếu của cuộc sống. Câu chuyện của Wilbur và của Charlotte, chính là hành trình đón nhận sự thật ấy một cách hết sức bình yên. Điều thú vị là đến tận bây giờ vẫn có không ít độc giả viết thư cho White để “phàn nàn” về cái kết, và đa số là người lớn. Hóa ra, càng hiểu sự chết bao nhiêu, Wilbur cùng những độc giả nhỏ tuổi của White càng thêm yêu cuộc sống bấy nhiêu. Chỉ có người lớn là gặp khó khăn về điều đó.

Tái hiện cuộc sống như nó vốn thế là một nhiệm vụ chẳng dễ dàng gì, và White đã rất kỳ công để làm điều ấy. Lấy nhện, một sinh vật thường bị sợ hãi hơn là yêu thích, làm nhân vật chính là khởi điểm. Ông mất một năm tìm hiểu về loài nhện, tham khảo giới chuyên gia và tự mình vẽ đồ họa về chúng. Ông tiếp cận chúng bằng con mắt của một nhà khoa học chứ không phải nhà văn, và từ chối đề xuất “mỹ hóa” con nhện từ nghệ sĩ minh họa (Garth Williams), cũng như yêu cầu thay đổi cái kết từ nhà xuất bản. Câu chữ của Charlotte’s Web kết tinh cái đẹp của văn chương lẫn sự chính xác trong khoa học. Vì là câu chuyện dành cho thiếu nhi, ngôn ngữ của tác phẩm không thể quá phức tạp. Nhưng chính trong cái dung dị ấy, văn phong xuất chúng của White lại được bộc lộ đến tột cùng. Đơn giản mà thấm thía, súc tích mà biểu cảm, nghiêm cẩn song vẫn đầy nhạc tính, đó chỉ có thể là tác phẩm của một ngòi bút bậc thầy.

E. B. White đã kết thúc câu chuyện của ông bằng một câu này: Bạn tốt và bút sắc, hai cái đó phải có duyên mới gặp được. Charlotte là cả hai. Nhìn từ góc độ của độc giả, hai phẩm chất này, há chẳng phải là tinh túy của nghề báo hay sao?

Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ cuối tuần tháng 6/2020

Tuesday, June 9, 2020

King and President

 

Những ngày này, cuộc đối đầu không khoan nhượng giữa Trump với Twitter khiến người ta nghĩ nhiều đến mối quan hệ bội phần phức tạp giữa chính quyền với truyền thông, một thứ đặc sản rất mực Hoa Kỳ – hãy nhớ House of Cards, nơi nữ phóng viên Zoe Barnes vừa là công cụ, vừa là tình nhân, và rốt cục trở thành nạn nhân của Frank Underwood, người sau này trở thành Tổng thống.

Tất nhiên, chẳng cứ gì Mỹ, ở đâu cũng vậy thôi, truyền thông luôn va chạm với chính quyền, không ít thì nhiều. Nhưng ân oán sâu xa giữa hai thứ quyền lực hành pháp và giám sát này có thể nói đã lên đến đỉnh điểm tại xứ sở cờ hoa. Chẳng cần lên đến cấp quốc gia và cũng chẳng phải đợi đến thế kỷ 20, báo chí mới có cơ hội vẫy vùng ở Tân thế giới. Một thị trấn Viễn Tây điển hình thế kỷ 19 luôn tồn tại một tờ báo, dù nhỏ bé và khiêm tốn, lượng phát hành chỉ vài chục bản. Đó là Daily Star ở tập truyện tranh Lucky Luke cùng tên. Đó là Shinbone Star trong The Man Who Shot Liberty Valance (1962). Những tờ báo ấy là hạt giống đầu tiên của tự do ngôn luận ở xứ này. Nói như chủ bút tờ Shinbone, “Tôi là người làm báo… Chính trị gia là món chính của tôi – tôi dựng họ lên, tôi lôi họ xuống.”

Vừa dõi theo cuộc chiến giữa Trump và báo chí, vừa xem lại mấy tác phẩm kinh điển của Hollywood về đề tài này, âu cũng là một điều thú vị trong những ngày hậu Covid. Hai lựa chọn xứng đáng nhất, có lẽ là All the King’s men, câu chuyện về một chính trị gia, và All the President’s men, câu chuyện về hai nhà báo.

Khác với Trump, một tỉ phú chuyển nghề, Willie Stark trong King’s xuất thân là một con người chất phác mong ước đóng góp cho cộng đồng, nhưng biến chất từ khi dấn thân vào con đường chính trị, đặc biệt là từ khi thành thống đốc bang. Câu chuyện ấy được thuật lại qua lời kể của Jack Burden, một phóng viên ngưỡng mộ sự chân thành ở Stark để rồi vỡ mộng vì sự tha hóa của y.

Nếu như King’s dựa trên một nhân vật có thật (Huey Long, thống đốc bang Louisiana từ 1928-1932) thì President’s là bảy tháng đầu tiên của cuộc điều tra chấn động nhất lịch sử nước Mỹ: vụ Watergate. Ở đây, ta sẽ bắt gặp hai gương mặt lẫy lừng, Redford và Hoffmann, trong vai cặp phóng viên mới vào nghề chuẩn bị là tác nhân quan trọng khiến Nixon phải từ chức năm 1974.

Xem King’s, ta sẽ hiểu thêm khá nhiều về nền chính trị Mỹ thuở sơ khai – thời kỳ của những cuộc vận động tranh cử tổ chức ngay ở ga xe lửa (whistle-stop tour). Cái cách Stark leo lên đỉnh cao danh vọng chính là căn cốt của giấc mơ dân chủ Mỹ: bất kể anh là ai, chỉ cần thuyết phục được người dân, anh sẽ thắng, dù cơ hội ấy có hoang đường đến mấy. Đây là lý do khiến 54 năm sau ngày Rosa Parks bị bắt vì không nhường chỗ cho người da trắng trên xe buýt, một người da màu đã đắc cử Tổng thống Mỹ. Nhưng cũng chính King’s lại đặt ra một câu hỏi lớn: làm thế nào để ngăn chặn cái viễn cảnh đáng sợ “quyền lực tuyệt đối sẽ sa đọa tuyệt đối,” điều đang xảy ra trên đất Mỹ ngay lúc này? Và cũng chính King’s đặt ra câu hỏi về vai trò và trách nhiệm của báo chí đối với tiến trình sa đọa ấy. Không phải tự nhiên họ của tay nhà báo lại là Burden (gánh nặng). Ban đầu Jack cố gắng giữ vai trò vô can của một người quan sát, nhưng dần dà anh đã bị cuốn vào vòng xoáy và trở thành công cụ tiếp tay cho Stark. Nhìn bằng lăng kính lý tưởng, người ta hy vọng đây là lý do thực sự khiến Twitter chống lại Trump –  họ không muốn thành công cụ thao túng dư luận và công kích đối thủ của đương kim Tổng thống.

Không chỉ Burden, mọi người đều có trách nhiệm khi trực tiếp đồng lõa hay gián tiếp tiếp tay cho Stark. Đó là Sadie, cựu phóng viên và trợ lý của Stark. Đó là Anne, người yêu Stark hay đúng hơn là yêu lý tưởng của ông ta. Và đó là gia tộc Stanton, vì đã hậu thuẫn cho Stark bằng uy tín chính trị nhiều đời của mình. Thế nên, nếu nhìn vào hiện tại, không khó để nói rằng tình cảnh thê thảm hiện giờ là cái giá nước Mỹ phải trả khi bốn năm trước chính họ đã bỏ phiếu đưa Trump lên làm Tổng thống.

Nếu người Mỹ xem King’s vào lúc này hẳn họ sẽ hoang mang hơn bao giờ hết. Thật ra nỗi hoang mang ấy đã tới từ rất sớm: gõ “All the King’s men” và “Donald Trump” vào ô tìm kiếm của Google, sẽ có 27.500 kết quả, trong đó có những bài viết từ 2016. Nói cách khác, không ít người ngay từ đầu đã thấy trong chiến lược tranh cử dân túy của Trump nét tương đồng với những bài diễn văn rực lửa của Stark, và thấy trong hình ảnh Stark, như người khổng lồ trên ban công Tòa thị chính ngó xuống dân chúng nhỏ xíu như những quân tốt trên bàn cờ, một dự cảm không lành cho tương lai nước Mỹ. Lần này, là điện ảnh đã bước vào đời thực, thậm chí tồi tệ hơn, vì ít ra Stark còn khởi đầu là một người tử tế.

Sau mọi sa đọa ở Stark, cái kết của King’s chỉ càng làm khán giả thêm bế tắc vì không tìm ra lời giải cho bài toán mang tên nền dân chủ Mỹ. Trong khi đó, President’s mang đến một cảm xúc khác. Nếu chất noir của King’s là ẩn dụ về bóng ma đen tối của cuộc Đại suy thoái 1929-1933, thì những khuôn hình của President’s cũng u ám, mịt mùng như không khí chính trị nước Mỹ năm 1972. Nhưng mỗi khi ống kính tìm đến với tòa soạn Washington Post, tất cả lại sáng lên, tuy mới chỉ là ánh sáng trắng lạnh của đèn huỳnh quang. Anh sáng ấy đại diện cho sự minh bạch của báo chí, như ngọn hải đăng lẻ loi soi tỏ những âm mưu chính trị chằng chịt bủa vây Washington D.C. dưới triều đại Nixon. Chẳng rõ Ban biên tập tờ báo gần đây có xem lại phim này chăng, nhưng kể từ 2017, lần đầu tiên trong lịch sử 140 năm của mình, Washington Post đã có một tuyên ngôn chính thức: Democracy Dies in Darkness.

Nhân vật chính trong President’s không phải là Bob Woodward và Carl Bernstein, dù họ thực sự là cặp bài trùng của vụ Watergate, mà là người lính gác tên là Báo chí. Lần đầu đụng nhau, Bernstein tự ý sửa bản thảo của Woodward. Bị chất vấn, anh nói, nếu cậu thấy bản cậu viết hay hơn, ta sẽ nộp bản đó cho tòa soạn. Xem xong, Woodward thừa nhận bản sửa của Bernstein tốt hơn. Một tình tiết nhỏ, song lại nói lên rất nhiều về nghề báo: trong sự mạch lạc báo chí không có chỗ cho tự ái cá nhân, điều duy nhất anh có thể làm là viết, viết, rồi viết lại, đến khi đạt thì thôi. cái đạt ấy không phải dựa trên tiêu chí riêng của Bob hay Carl, cũng không phải của Ben Bradlee, Tổng Thư ký Tòa soạn. Đó là độc lập, khách quan và đầy đủ căn cứ; và như con chó ngao ba đầu trong thần thoại, Bradlee chỉ cho phép những phóng sự đi qua chừng nào chúng đảm bảo cả ba yếu tố ấy. Sự khắt khe của Bradlee khiến cả khán giả cũng nản lòng mỗi khi Bob và Carl bị từ chối, tiu nghỉu cầm bản thảo lê bước về bàn mình như chó bị cắt tai (triết lý làm báo của Bradlee, theo lời họ, là “mũi sục xuống đất, mông chổng lên trời, từng bước tiến tới tương lai”). Nhưng, vẫn con chó già ấy, ở thời khắc sinh tử, khi hai gã học trò mắc sai lầm trí mạng, lại là người giương tấm khiên vững chãi nhất để bảo vệ đồng nghiệp: “We stand by our story.”[1]

President’s không phải là khúc ca khải hoàn của nghề báo. Phần lớn bộ phim, tâm thế của Bob và Carl chủ yếu là của kẻ mắt sáng phải đi trong bóng tối: dò dẫm và bế tắc, thậm chí hoài nghi năng lực bản thân. Xen kẽ mạch cảm xúc ấy là những giây phút lo sợ cho tính mạng mình, nản lòng vì thất bại, ăn năn vì phạm sai lầm. Nhưng sau cùng, bằng sự lì lợm của chó săn, bằng cách kiên trì gõ cửa từng nhân viên tham gia chiến dịch tranh cử của Nixon hòng thuyết phục họ chia sẻ thông tin và miệt mài theo dấu dòng tiền, cả hai đã lần ra dấu vết dẫn về Nhà Trắng.

So với King’s, những ngày tháng này, President’s còn được người Mỹ nhắc đến nhiều hơn. Phần vì nó mới hơn. Phần vì câu chuyện Watergate có thật và gợi lên nhiều liên tưởng. Phần vì Washington Post  một lần nữa lại đứng trên đầu chiến tuyến, đối diện với chính quyền. Nhưng quan trọng hơn cả, vì nó đem lại cho người ta hy vọng. Rằng bất chấp mọi đổi thay của thời đại và công nghệ, bất chấp mọi dọa dẫm và kiềm tỏa, báo chí sẽ giữ được sự độc lập của mình, và cùng với nó là thứ quyền lực khách quan đủ sức hạ bệ cả một chính quyền./.



[1] Bốn tháng sau khi bắt đầu điều tra vụ Watergate, Washington Post đăng bài trên trang nhất khẳng định Chánh Văn phòng Nhà Trắng Bob Haldeman kiểm soát quỹ đen cấp tiền cho vụ đột nhập vào trụ sở đảng Dân chủ. Dù điều này là chính xác, vào thời điểm đó Bob và Carl mắc sai lầm sơ đẳng: không kiểm chứng kỹ nguồn tin, bởi vậy không đủ bằng chứng hậu thuẫn cho cáo buộc này. Trước sự phản pháo dữ dội của Chính quyền, Ben Bradlee đã đưa ra tuyên bố “Quan điểm của chúng tôi trước sau như một.”

Friday, January 3, 2020

Mười năm

 

Mười năm không phải là quãng thời gian quá dài với một đời người. Càng không phải là dài với một ngành công nghiệp như điện ảnh. Nhưng điện ảnh mười năm qua quả thật đã rất nhiều vật đổi sao dời. Cả trên thế giới. Lẫn ở Việt Nam. Mặc dù hơi sớm, nhưng bài viết này vẫn muốn nhân dịp cuối năm cùng độc giả nhìn lại những đổi thay xảy ra trên, trước và cả phía sau màn bạc một thập niên trở lại đây.

Siêu anh hùng giành ngôi bá chủ

Thành công của X-men (2000) hay Spider-Man (2002) sớm báo hiệu một tương lai huy hoàng cho dòng phim siêu anh hùng. Nhưng phải tới khi Disney mua lại Marvel Studios cuối 2009 thì điện ảnh-comic mới thật sự lên ngôi. Sau một thập niên, Disney đã gây dựng nên một Vũ trụ Điện ảnh Marvel rộng lớn với 23 phim chiếu rạp và tổng doanh thu 22.6 tỉ USD, chưa kể các TV series. Có thể nói quãng đời niên thiếu của một đứa trẻ sinh năm 2000 bắt đầu cùng Ironman (2008) và kết thúc ở Avengers: Endgame (2019). Dù muộn màng hơn và kém thành công hơn,, DC cũng đã kịp tạo ra một vũ trụ của riêng mình với bảy bộ phim. Bên cạnh 30 gã khổng lồ này, những bộ phim khác, kể cả Hollywood chứ chưa nói tới các nền điện ảnh khác, như những cậu bé tí hon nếu xét về kinh phí, doanh thu lẫn độ phủ sóng truyền thông. Có thể nói mười năm qua điện ảnh thế giới đã sống dưới cái bóng của comic, dù muốn hay không. Chính sự thống trị tuyệt đối ấy đã làm một gương mặt lão làng như Martin Scorsese phải chán ghét thốt lên rằng đấy không phải là điện ảnh, mà là một thứ theme-park. Và dĩ nhiên, sẽ có rất rất nhiều người không đồng ý với ông.

Streaming lên ngôi

Với sự bùng nổ của Internet băng thông rộng, DVD và thậm chí cả Bluray đã trở thành quá khứ. Xem phim online đã trở thành xu thế. Năm 2007, Netflix bắt đầu thử nghiệm dịch vụ streaming, và sau mười năm đã có 120 triệu người dùng tại hơn 180 quốc gia (trừ Trung Quốc). Tất nhiên, không chỉ có mình Netflix. Những ông lớn trong làng công nghệ đều có dịch vụ streaming của riêng mình: từ Apple iTunes của Apple đến Google Play Movies & TV và Amazon Prime Video. Không chỉ hấp dẫn những đại gia, thị trường streaming còn thu hút những công ty nhỏ hơn với thế mạnh là nội dung nội địa – có thể kể tới Fim+, iflix hay FPT Play tại Việt Nam. Những những con cá mập của làng streaming như Netflix không dừng lại ở chỗ chiếu phim của người khác, họ còn tự sản xuất nội dung và đã trở thành những thế lực thực sự, cạnh tranh quyết liệt với các studio truyền thống. Dù chỉ mới sản xuất original series đầu tiên (House of Cards) năm 2013, đến 2018 ước tính trên Netflix đã có 700 series tự sản xuất thuộc đủ thể loại, trong đó khoảng 80 series bản địa (không nói tiếng Anh). Chỉ riêng 2019, Netflix ra mắt 73 phim truyện – gấp bốn lần con số cùng kỳ của Warner Bros.

Sự giao thoa của truyền hình và điện ảnh

Một lần nữa, công nghệ lại đóng vai trò then chốt trong xu thế này. Trước đây, khi ti vi chỉ có kích thước 14 inch và phân giải SD, trải nghiệm khi xem phim tại nhà và ngoài rạp khác nhau một trời một vực. Ngày nay, khi màn hình ti vi ngày càng lớn và phân giải 4K đã thành chuẩn mực, khi máy chiếu và rạp hát tại gia không còn đắt đỏ, khoảng cách giữa truyền hình và điện ảnh đang xích lại gần nhau. Nhà sản xuất sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn cho phim truyền hình. Mười năm bá chủ của series Game of Thrones là minh chứng rõ nét nhất, khi mỗi tập phim được đầu tư 10 triệu USD – con số mà các bộ phim độc lập phải mơ ước. Không dừng ở kinh phí hay trải nghiệm thị giác, chất điện ảnh trong phim truyền hình ngày càng đậm nét, đến mức nếu ngẫu nhiên mở ti vi, ta khó mà đoán được mình đang xem là phim chiếu rạp nay được phát trên truyền hình, hay là phim truyền hình thực sự. Đã có bộ phim những bộ phim giành Oscar mà chỉ được phát hành hạn chế ngoài rạp, còn đa số khán giả đều xem qua tivi như Roma của Netflix hồi năm ngoái, và có thể là The Irishman của năm nay.

Tương lai nào cho phim độc lập?

Khi nhìn lại một thập niên vừa qua, đây là một câu hỏi rất khó trả lời. Năm 2009 Canon ra mắt 5D mark II, chiếc máy ảnh full-frame có tính năng quay phim đầu tiên. Chưa bao giờ giấc mơ điện ảnh lại trở nên gần gũi với các đạo diễn indie cả về mặt kỹ thuật lẫn kinh phí như thế (năm 2012, Dành cho tháng Sáu, phim indie đầu tiên quay bằng 5D mark II của Việt Nam đã ra mắt khán giả). Cùng với phần cứng giá phải chăng là những phần mềm như Adobe Premiere Pro hay Final Cut Pro, cho phép các nhà làm phim xử lý hậu kỳ với chi phí tối thiểu. Giải Oscar của Moonlight (2017) cũng là niềm hy vọng cho giới làm phim độc lập, bởi nó chứng tỏ thành công không phải là bất khả với ngân sách khiêm tốn 1,5 triệu USD (chưa bằng 30 giây quảng cáo trong Lễ trao giải của Viện Hàn lâm).

Dẫu công nghệ cho phép điện ảnh độc lập bảo lưu tiếng nói của mình, tiếng nói của phim thương mại, nhất những bom tấn, lại rền vang hơn bao giờ hết, lấn át không thương tiếc những giọng nói nhỏ bé hơn. Trong khi số phòng chiếu ở Việt Nam tăng từ gần 100 năm 2009 lên hơn 900 sau 10 năm, tiền đề để lần lượt Captain Marvel rồi Avengers: Endgame lập kỷ lục phòng vé, thì rạp phim nghệ thuật duy nhất ở Hà Nội, Cinematheque, đã nói lời vĩnh biệt với người yêu điện ảnh năm 2016, sau 12 năm hoạt động.

Trong một diễn biến khác, công nghệ (vâng, lại là công nghệ) streaming đã mang lại cho phim độc lập một cơ hội chưa từng có. Trước giờ, đến được với khán giả luôn là cuộc chiến tuyệt vọng của phim độc lập, nhưng streaming đã khiến điều đó trở thành đơn giản. Nhờ Netflix, một bộ phim hoạt hình kiểu I Lost My Body trước đây chỉ có thể công chiếu ở các liên hoan phim như Annecy thì nay có thể đến với hàng triệu người xem sau chỉ một ngày.

Một lục địa nổi lên từ đáy biển

Hình ảnh như thể từ phim viễn tưởng này có lẽ là ẩn dụ thích hợp nhất để miêu tả về sự trỗi dậy của thị trường Đại lục mười năm qua. Từ chỗ đứng thứ tám thế giới năm 2007 về quy mô thị trường, Trung Quốc chỉ mất năm năm để vượt mặt Nhật, chiếm vị trí thứ hai. Và với doanh thu 10 tỉ USD năm 2019 nước này được dự báo sẽ soán ngôi đầu của Bắc Mỹ chỉ trong vài năm tới. Thực tế ấy ảnh hưởng sâu sắc tới mọi khía cạnh của ngành công nghiệp celluloid – khi Trung Quốc vừa là khán giả vừa là nhà đầu tư, Hollywood không thể không chiều chuộng họ. Do đã có một bài viết riêng khá dài về điện ảnh Đại lục trên Tuổi Trẻ cuối tuần số ra ngày 20.10, xin được dừng ở đây, để chuyển sang điểm lại những dấu ấn lớn của điện ảnh trong nước thời gian qua.

Điện ảnh của mọi nhà

Xét từ góc độ kinh tế, mười năm qua thị trường trong nước phát triển mạnh mẽ không kém gì Trung Quốc, chỉ là ở quy mô nhỏ hơn. Tốc độ tăng trưởng vũ bão và những kỷ lục doanh thu phòng vé lần lượt bị phá đã nói lên điều đó. Mười lăm năm trước, cineplex là đặc quyền chỉ của Hà Nội và Sài Gòn. Giờ đây, người dân các tỉnh cũng có thể thưởng thức điện ảnh với chất lượng không thua gì thủ đô giàu đẹp. Một điểm độc đáo nữa là sự bùng nổ của mô hình chung cư kết hợp với trung tâm thương mại khiến rạp chiếu phim thực sự trở thành một tiện ích tại gia của nhiều gia đình, khi chỉ cần đi xuống tầng dưới là gia chủ đã có thể xem bộ phim mình mong đợi. Thế nhưng, dẫu điện ảnh đã trở thành một sản phẩm tiêu dùng thường nhật, truyền thông Việt vẫn chưa hình thành được một cơ chế đánh giá chất lượng phim một cách quy củ. Đến giờ, khán giả vẫn chưa biết phải tìm đến đâu để nhận được sự tư vấn đáng tin cậy về chất lượng của một bộ phim. Nói cách khác, phê bình điện ảnh phục vụ đại chúng vẫn hoàn toàn vắng bóng ở xứ sở này.

Sự cáo chung của điện ảnh nhà nước

Nếu có gì đáng buồn mà cũng đáng vui nhất suốt mười năm qua thì chắc hẳn đó là cái chết của Hãng phim truyện Việt Nam. Đáng buồn thì rõ rồi. Nhưng sao lại đáng vui? Đáng vui vì nó đặt dấu chấm hết, tuy rất tàn nhẫn và nhiều khuất tất, cho một nền điện ảnh bao cấp, làm phim theo đơn đặt hàng và hoàn toàn không có rủi ro vì không phải lo lỗ vốn. VFS không chết năm 2016 khi bị một con buôn đích thực là Vivaso mua lại, nó đã chết ngay từ 2010 khi bị bứt khỏi bầu sữa mẹ có tên là ngân sách nhà nước.

Bóng ma kiểm duyệt

Điện ảnh nhà nước có thể đã chết đi, nhưng bóng ma của nó vẫn dật dờ ám ảnh người làm nghề. Sau nhiều phấn khởi đầy mơ mộng về một thời kỳ mới vừa mở ra cho điện ảnh, sự kiện Bụi đời Chợ Lớn bị cấm chiếu năm 2013 nhắc cho tất cả nhớ rằng lưỡi dao kiểm duyệt chưa lúc nào không lơ lửng trên đầu họ. Và mới đây thôi, sự kiện Ròm bị cấm dự Liên hoan phim Busan càng củng cố sự thật đó: Censorship is here to stay! Scandal của Everest Người tuyết bé nhỏ, nếu có chút gì tích cực, thì đó là việc nó phơi bày sự vô năng của một cơ chế lẽ ra nên được xếp xó từ rất lâu rồi.

Biên kịch, anh ở đâu?

Cùng với nó là sự xuất hiện của một thế hệ đạo diễn/quay phim trẻ, giàu năng lực và được đào tạo bài bản, trong nước có mà Việt kiều cũng có. Phim Việt bởi thế đã hết lâu rồi những quê mùa ngây ngô về kỹ thuật. Nhưng điều cốt lõi nhất của điện ảnh – nghệ thuật kể chuyện – thì vẫn là một khoảng trống chưa thể lấp đầy. Đa số các phim thành công hoặc là remake từ phim Hàn (Em là bà nội của anh, Tháng năm rực rỡ, Anh trai yêu quái) hoặc là chuyển thể từ một tác phẩm văn học được yêu thích (mà thường là Nguyễn Nhật Ánh). Sau mười năm, người yêu điện ảnh vẫn đang chờ đợi một câu chuyện xuất sắc và nguyên bản, đủ sức lay động người xem đến tận đáy lòng, mà không cần đến mọi màu mè hoa dạng của kỹ xảo, của marketing, và của cả những thủ thuật tạo scandal. Tiếc rằng ngày đó vẫn chưa đến. Với điện ảnh Việt Nam.

Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ cuối tuần tháng 1/2020

Monday, November 25, 2019

Hong Kong thuở ấy

 

Đã sáu tháng kể từ ngày Hong Kong rơi vào khủng hoảng, một cuộc khủng hoảng chưa hề có dấu hiệu nguôi ngoai. Nhưng cuộc khủng hoảng của điện ảnh Hong Kong thì đã kéo dài ít nhất mười lăm năm, và đến giờ cũng vẫn chưa hề có dấu hiệu dừng lại.

Có lẽ hơn ai hết, khán giả Việt Nam là những người hiểu nhất và cũng nhớ nhất thời hoàng kim của điện ảnh Hong Kong. Cái thời những Anh hùng bản sắc hay Người trong giang hồ khuynh đảo mọi hàng băng đĩa. Cái thời xem phim liền tù tì được gọi là “luyện chưởng” thay cho “bing-watch.” Cái thời mà xứ cảng thơm được mệnh danh là “Hollywood của phương Đông.” Cái thời đã một đi và có lẽ chẳng bao giờ trở lại, nhưng sẽ vĩnh viễn ghi dấu trong lòng ta, như câu chuyện “trời cao gió lộng sát cánh cùng bay” của Thần điêu hiệp lữ.

Từ chỗ cho ra đời 400 phim mỗi năm vào đầu thập niên 90, con số này đã giảm xuống còn khoảng 60 ngày nay. Từ chỗ làm mưa làm gió trên thảm đỏ lộng lẫy của Berlin, Cannes và Venice, đồng thời mê hoặc trái tim của bao thanh niên lẫn các bà nội trợ, Hong Kong đã dần phải nhường chỗ cho Hallyu (Hàn lưu), và cho cả những bom tấn từ phương Bắc. Nếu như năm 1996, trong 10 phim ăn khách nhất Hong Kong có phân nửa là bản địa, thì đến 2016 chỉ có duy nhất Mỹ nhân ngư trong top 10, và đây cũng là một sản phẩm hợp tác cùng Đại lục.

Có nhiều lý do để giải thích và có lẽ cả biện minh cho sự suy tàn ấy. Sẽ không ít người nói, 1997 là cột mốc, và Đại lục là nguyên nhân. Năm 1997 có thể đúng là cột mốc, nhưng Đại lục thì không phải là nguyên nhân (duy nhất) cho sự sụp đổ của một đế chế từng thống trị cả vùng Đông Á.

Điện ảnh, nói cho cùng, là sản phẩm của con người. Vì thế nên khi đi tìm câu trả lời cho sự tàn lụi mang tên gọi Hong Kong, trước tiên, ta nên tìm đến những con người của xứ sở này.

Đầu tiên, họ đã già. Tất cả đều đã già. Ngô Vũ Sâm. Đỗ Kỳ Phong. Từ Khắc. Và cả Vương Gia Vệ nữa. Vương, người ít tuổi nhất trong số họ, đã 60. Còn Ngô, người già nhất, đã 73. Và đấy là mới xét đến phần đạo diễn. Tuổi tác không trừ bất cứ ai. Thành Long, Châu Tinh Trì, Châu Nhuận Phát, tất cả đều đã ngoại sáu mươi. Lý Gia Hân, người trẻ nhất của Tứ đại mỹ nhân, sang năm sẽ sang tuổi ngũ tuần. Và tàn đi cùng họ, là nét tuyệt đại phong hoa của một nền điện ảnh. Nhưng điều đáng nói hơn là sức sáng tạo cũng lụi dần theo năm tháng. Lần cuối ta được thấy một siêu phẩm của họ là bao giờ? Với Ngô Vũ Sâm, là Lạt thủ thần thám (1992). Với Đỗ Kỳ Phong, là Xã hội đen 2 (2009). Với Từ Khắc, có lẽ là Thất kiếm (2005). Còn Châu Tinh Trì, nhiên là Tuyệt đỉnh công phu (2004). Hứa An Hoa vẫn xuất sắc như ngày nào (năm 2012, Đào thư được đề cử Sư tử vàng còn Diệp Đức Nhàn ẵm giải nữ chính của Venice), nhưng bà đi một đường riêng và như người ta nói, một cánh én không làm nên mùa xuân.

Trong khi đó, thế hệ kế tiếp họ dường như lại thiếu vắng một chút gì đó để trở thành kinh điển. Sau Vô gián đạo rất xuất sắc, Lưu Vĩ Cường và Mạch Triệu Huy vẫn có những phim khá, nhưng chen vào đó là nhiều phim trung bình. Quan Cẩm Bằng có dấu hiệu hụt hơi, và chỉ cho ra đời một bộ phim duy nhất kể từ Trường hận ca (2005). Diệp Vĩ Tín chỉ xuất sắc trong một thể loại đặc trưng của anh là võ thuật, và Sát Phá Lang cũng đã là câu chuyện từ 15 năm trước. Trần Khả Tân ổn định hơn và có những sáng tạo nhất định, nhưng chất ngọt ngào mê đắm của Điềm mật mật thì đã không còn. Mà có lẽ, đấy cũng không phải là lỗi của Trần, chẳng qua là Hong Kong không sản sinh ra được một cặp đôi Trương Mạn Ngọc-Lê Minh nào nữa.

Quả vậy. Những gương mặt trên màn bạc luôn là nguồn năng lượng nuôi dưỡng một nền điện ảnh. Hong Kong hồi thập niên 80-90 có may mắn sản sinh ra được một thế hệ diễn viên xuất chúng. Dĩ nhiên là họ đẹp, nhưng cái đẹp của họ là cái mỗi người một vẻ. Cái sắc sảo của Lâm Thanh Hà khác với cái sắc sảo ở Trương Mẫn. Nét quý phái của Quan Chi Lâm khác với nét quý phái từ Trương Mạn Ngọc. Vẻ thuần khiết trong Vương Tổ Hiền khác với vẻ thuần khiết nơi Lý Gia Hân. Nó rất khác vẻ đẹp như đúc từ một khuôn và trang điểm cùng một cách nhan nhản trên showbiz Hàn Quốc và Đại lục hai thập niên trở lại đây. Đặt họ cạnh những gương mặt được xem là hạng A của điện ảnh Hoa ngữ bây giờ như Angelababy hay Triệu Lệ Dĩnh, mới thấy khác biệt lớn đến chừng nào.

Và không chỉ là những khuôn mặt đẹp, họ thực sự có khí chất và tài năng. Ai dám nói Trương Quốc Vinh chỉ là một chàng ca sĩ đẹp trai khi xem Xuân quang xạ tiếtBá vương biệt cơ? Tương tự như vậy với Lưu Đức Hoa trong Vô gián đạo hay Lương Triều Vỹ trong Hoa dạng niên hoa! Khoảng cách của họ và những Tạ Đình Phong, Ngô Ngạn Tổ hôm nay quả thực là không thể lấp đầy! Và đừng nói những Thiên vương như Lưu, ngay cả những diễn viên có ngoại hình không hào nhoáng như Lưu Thanh Vân hay từng đóng phim cấp III như Nhậm Đạt Hoa, đến những người chuyên đóng vai phụ như Huỳnh Thu Sanh hay Tăng Chí Vỹ, năng lực diễn xuất của họ cũng là điều không thể nào phủ nhận.

Và cũng không thể nào phủ nhận là cuộc trở về Đại lục đã ảnh hưởng sâu sắc và đến điện ảnh Hong Kong. Bên cạnh bảy triệu rưỡi người Hương Cảng, thị trường một tỉ ba của Đại lục là một cái bóng khổng lồ không ai có thể thoát khỏi. Những bộ phim xuất sắc trong giai đoạn 1997-2005 như Thiếu Lâm túc cầu hay Vô gián đạo thực ra vẫn là dư quang của thời đại trước. Khủng hoảng tài chính 1997 kết hợp với đại dịch SARS khiến kinh tế Hong Kong lao đao, và xuống dốc cùng với kinh tế tất nhiên là điện ảnh. Trong khi doanh thu phòng vé ở bên kia biên giới tăng phi mã, phân nửa rạp chiếu phim của Hong Kong phải đóng cửa. Áp lực ấy khiến tất cả hướng về Đại lục như một lối thoát tất yếu, nhất là khi Hong Kong được loại khỏi diện chịu quota nhập khẩu, và phim hợp tác với Đại lục được tính là nội địa khi phát hành.

Nhưng đi cùng chiếc phao cứu sinh đồng sản xuất ấy là gọng kìm tên gọi là kiểm duyệt. Những dự án hợp tác buộc phải nộp kịch bản cho Bắc Kinh trước khi sản xuất. Nói cách khác, chiếc vòng kim cô đã trùm lên cái đầu sáng tạo của điện ảnh Hong Kong. Dù vậy, kim tiền và vị thế ngôi sao Đại lục vẫn là sự hấp dẫn quá lớn với bất kỳ ai. Bắc tiến đã thành xu thế. Lần lượt những Từ Khắc, Lâm Siêu Hiền, Trần Khả Tân theo nhau vượt qua biên giới, và họ đã thành công. Trong số năm mươi bộ phim có doanh thu cao nhất Đại lục, có 15 là tác phẩm của các đạo diễn Hong Kong, còn các đồng nghiệp xứ bắc chỉ chiếm 12 suất. Những con số 3-500 triệu USD phòng vé thừa sức khiến những cá tính bướng bỉnh nhất, dù là đạo diễn hay diễn viên, phải cúi đầu.

Không chỉ là câu chuyện của kịch bản, mọi điều ở họ đều dần dà khép vào khuôn khổ và chuẩn mực của Đại lục. Cái cằm V-line trở thành tiêu chí về nhan sắc. Mọi ngôi sao đều có tài khoản Weibo để giao tiếp với người hâm mộ. Tính độc lập và đa dạng trong sáng tạo của điện ảnh Hong Kong mất dần đi khi mọi cân nhắc về chuyên môn lẫn tài chính đều phải tính đến yếu tố thị trường Đại lục và sự kiểm duyệt từ Bắc Kinh. Và, dĩ nhiên, khi Tòa Trọng tài Thường trực ra phán quyết về đường lưỡi bò, tất cả, dù muốn hay không, đều ngoan ngoãn thể hiện quan điểm trên mạng. Chẳng ai muốn làm mất lòng một cộng đồng hâm mộ đông đảo đang sục sôi và sẵn sàng ném đá những kẻ bị cho là không yêu nước.

Và tất nhiên, không thể không kể đến sự bùng nổ của những đối thủ khác – Hàn Quốc, Đại lục, và tất nhiên, cả Hollywood nữa. Hong Kong có những đặc sản – xã hội đen, võ hiệp, và thể loại hài mo lei tau từ lâu đã thành thương hiệu của Châu Tinh Trì. Nhưng những món như thế ăn mãi cũng chán, và những đường quyền cước Hong Kong bỗng nhỏ bé đến tội nghiệp trước những món vũ khí hạng nặng của Biệt đội Avengers hay trước những bom tấn của CFGC hoặc Hoa Nghị huynh đệ. Và trái tim các bà nội trợ giờ đây cũng đã có những hình bóng mới, Song Jong Ki hoặc Bi Rain.

Nếu có chút hy vọng gì le lói, thì đó là làn sóng mới xuất hiện sau cơn địa chấn 2014 ở Trung Hoàn. Thế hệ đạo diễn trẻ bắt đầu lưu tâm đến những đề tài chính trị-xã hội thay vì giải trí thuần túy. Có thể kể đến Thụ đại chiêu phong hay Nhất niệm vô minh (đều 2016) và Thập niên (2015), bộ phim đã đoạt giải Kim Tượng, nhưng bị Đại lục cấm chiếu và thậm chí là cấm truyền hình buổi lễ từ Hong Kong vì nội dung chính trị nhạy cảm. Dù vậy, việc phim được trao giải bản thân nó đã là tín hiệu đáng mừng. Điện ảnh Hong Kong có thể không bao giờ lấy lại vẻ phong quang ngày cũ, nhưng chắc chắn nó sẽ không chết đi một cách dễ dàng.

Hà Nội ngày 17 tháng 11 năm 2019
Nham Hoa