Wednesday, May 6, 2009

Shinjuku Incident – Nỗ lực không thôi chưa đủ


Nhắc đến Thành Long, người ta nghĩ ngay đến hai thứ: (1) võ thuật: (2) hài. Tóm lại, Thành Long = võ thuật + hài. Lần này không thế. Shinjuku Incident không hài và cũng không võ thuật, dù vẫn có không ít cảnh đánh nhau. Sau hơn ba mươi năm theo nghề và hơn chín mươi bộ phim, nỗ lực quay sang đóng một vai nghiêm túc trong một bộ phim nghiêm túc này tuy rất đáng trân trọng, nhưng hình như hơi quá muộn đối với Mr. Chan.

Thiết Đầu (Thành Long) là một anh nông dân nghèo ở miền đông bắc Trung Quốc, lặn lội lên thành phố tìm người yêu. Vấn đề: thành phố ấy là Tokyo, và con đường mà Thiết Đầu đi là nhập cư bất hợp pháp. Với sự giúp đỡ của cậu bạn đồng hương A Kiệt (Ngô Ngạn Tổ), anh bắt đầu cuộc sống mới ở Shinjuku, một quận tập trung rất đông người Hoa nhập cư trái phép. Ở đây, anh gặp Lệ Lệ (Phạm Băng Băng), một cô chủ quán bar tốt bụng, và tái ngộ với Tú Tú (Từ Tịnh Lôi), người anh tìm kiếm bấy lâu. Sau cuộc gặp gỡ không lời ấy, Thiết Đầu quyết tâm ở lại Tokyo, quyết tâm đi lên bằng cách dấn thân vào thế giới ngầm của Shinjuku.

Đây không phải là lần đầu tiên Nhĩ Đông Thăng làm phim về một chàng trai nông thôn phải đối diện với hiện thực thành thị tàn nhẫn. Shinjuku IncidentOne Night in Mongkok cùng chia sẻ sự tàn nhẫn ấy trong một bầu không khí u tối và ảm đạm, nhưng sự sai lầm trong casting và kịch bản khiến họ Nhĩ không tái lập được thành công ở One Night In Mongkok. “Chàng trai” Thành Long đã năm mươi lăm, và khi sánh vai với một Ngô Ngạn Tổ trẻ trung và một Phạm Băng Băng xinh đẹp thì dù đã được sự hỗ trợ tích cực của botox khuôn mặt anh cũng không có được sự thuyết phục và biểu cảm tương xứng với một vai diễn bi kịch như vậy. Nhưng anh đã cố gắng, và nếu so với Lý Liên Kiệt và Chân Tử Đan thì cố gắng ấy vẫn rất đáng để người ta khen ngợi.

Ngô Ngạn Tổ vốn là diễn viên ưa thích của Nhĩ Đông Thăng, và nếu không có Thành Long chắc ông đã chọn anh vào vai chính như ở One Night In Mongkok. Và anh cũng là điểm sáng lớn nhất trong phim bên cạnh Naoto Takenaka vai thanh tra Kitano. A Kiệt của anh có lẽ là một bi kịch còn đáng xót xa hơn nhiều cái bi kịch của nhân vật chính. Bên cạnh anh, Phạm Băng Băng rất thành công trong vai bình hoa mới tốt bụng, trong khi Từ Tịnh Lôi cũng xuất sắc không kém trong vai bình hoa cũ nhiều tâm sự của Thiết Đầu.

Câu chuyện của Shinjuku Incident có thể nói là hứa hẹn khi nó khai thác một đề tài mới mẻ: người Hoa nhập cư bất hợp pháp ở Nhật và mặt trái của cuộc sống ấy (và có lẽ vì nó quá trái nên bộ phim đã bị cấm chiếu ở Đại lục). Chỉ tiếc rằng kịch bản của phim khá lỏng, và lại lỏng ở đúng những thời điểm mấu chốt. Nếu sự ngây thơ của Thiết Đầu dễ hiểu thì sự thăng tiến dễ dàng của anh ở Shinjuku lại cho thấy sự ngây thơ đến khó hiểu của biên kịch, khi cái thế giới ngầm mà anh dấn thân vào có lúc rất thật mà cũng có lúc không thật chút nào, cả trong cái đơn giản và sự tàn nhẫn của nó. Cái kết dành cho Thiết Đầu là hợp lý, nhưng cái cách anh đi đến cái kết đó thì hơi quá khiên cưỡng.

Nếu không có điểm yếu về kịch bản thì có lẽ Shinjuku đã thành một phim rất đáng xem với sự mới mẻ cả trong đề tài và cách tiếp cận. Càng đáng tiếc hơn khi phim quay rất tốt, dưới một ống kính toan tính và đầy dụng ý của Kita Nobayashu. Nhĩ Đông Thăng rất giỏi dùng phim 2.35:1, chiều rộng của khuôn hình kết hợp với góc máy cận cảnh đã lột tả khá chân thực cái bức bối cả về không gian lẫn tinh thần của cuộc sống ở Shinjuku.

Nhưng thế vẫn là chưa đủ. Vấn đề của một phim như Shinjuku Incident là nó rất u tối. U tối là một lựa chọn mạo hiểm, bởi nếu thành công thì bộ phim sẽ lưu lại rất lâu trong ký ức người xem. Nếu không, những gì lưu lại chỉ là mệt mỏi.

Saturday, April 18, 2009

Túy sinh mộng tử


Từ lâu, “toàn sao” đã trở thành công thức quen thuộc để đảm bảo sự thành công về thương mại cho một bộ phim: Love Actually hay Ocean’s Eleven. Và gần đây nhất, Xích Bích. Tầm tầm về chất lượng, nhưng dư sức khiến khán giả choáng ngợp và no nê thỏa mãn với một bữa đại tiệc nhìn-ngắm-thần-tượng, đó là tất cả những gì những bộ phim “toàn sao” thường mang lại.

Phim của Vương Gia Vệ là ngoại lệ.

Đông Tà Tây Độc, lại là ngoại lệ trong ngoại lệ.

Lần tái xuất này của Đông Tà Tây Độc, mười lăm năm sau ngày bộ phim ra đời, sáu năm sau ngày mất của Trương Quốc Vinh, một lần nữa khẳng định điều đó.

Trên danh nghĩa, Đông Tà Tây Độc là sự tái hiện tác phẩm võ hiệp nổi tiếng của Kim Dung, Xạ điêu anh hùng truyện, lên màn bạc. Trên thực tế, những gì Vương Gia Vệ giữ lại chỉ là tên tuổi và danh hiệu của từng nhân vật. Câu chuyện của Đông Tà Tây Độc là một câu chuyện không bao giờ cũ mà người đạo diễn đeo kính đen lừng danh của điện ảnh Hong Kong sẽ còn kể mãi, sau hai thập kỷ theo nghề và sau chín bộ phim: câu chuyện của ký ức, của quá khứ, của hoài niệm, của nỗi khắc khoải vì rất nhớ và niềm tuyệt vọng khi chẳng thể nào quên, cho dù đã cạn hết một vò Túy sinh mộng tử.

Câu chuyện xảy ra khi Hoàng Dược Sư (Lương Gia Huy) chưa là Đông Tà, Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) chưa thành Tây Độc, Hồng Thất Công (Trương Học Hữu) vẫn còn đủ mười ngón tay, và Độc Cô Cầu Bại (Lâm Thanh Hà) chưa nổi danh khắp giang hồ. Lấy Âu Dương Phong làm trung tâm, câu chuyện xoay quanh những tao ngộ của gã môi giới sát thủ ở vùng quan ngoại này với những con người khác nhau tìm tới gã: khách hàng có, bằng hữu có, và sát thủ làm thuê cũng có. Mỗi cuộc gặp gỡ lại khơi dậy một chút quá khứ đã ngủ yên trong lòng gã, thôi thúc gã một ngày kia trở lại Bạch Đà sơn, để rồi trở thành bá chủ võ lâm một miền Tây Vực.

Mặc dù rất xa rời nguyên tác của Kim Dung, nhưng có những giây phút Đông Tà Tây Độc lại mang đến cho người xem cái cảm giác đây mới là con người thực của Âu Dương Phong và Hoàng Dược Sư. Những con sóng bạc và những đóa hoa đào, phải chăng là nỗi ám ảnh khởi phát từ hai câu thơ ở Thí Kiếm đình, đảo Đào Hoa: Hoa đào bóng rụng phi thần kiếm, biển biếc triều dâng trỗi ngọc tiêu. Vương có lẽ cũng là người mê kiếm hiệp, theo cách của riêng ông, và bởi thế đã hiểu và diễn dịch lại nó trên góc nhìn của riêng ông, nghĩa là qua một cốt truyện hoàn toàn mới mẻ.

Cốt truyện của Đông Tà Tây Độc Redux hầu như không thay đổi so với bản gốc 1994, ngoại trừ một số cảnh giao đấu đã được cắt bỏ, có thể vì bản gốc bị hư hại, mà cũng có thể vì Vương chủ ý. Dù sao đi nữa, nó cũng khẳng định một điều: bất chấp cái tên kiếm hiệp, bất chấp những nhân vật kiếm hiệp, Đông Tà Tây Độc chưa bao giờ là một bộ phim kiếm hiệp. Kiếm hiệp, cũng như Hong Kong thập niên 60, nước Mỹ thời hiện đại, hay thế giới giả tưởng năm 2046, tất cả đều chỉ là cái nền cho câu chuyện về ký ức của ông mà thôi.

Lần này, câu chuyện được kể lại qua góc máy đẹp đến ngỡ ngàng của Christo-pher Doyle. Tên tuổi tay máy người Anh đã gắn liền với Vương qua rất nhiều tác phẩm, nhưng có lẽ Đông Tà Tây Độc là dịp để cả hai thả sức tung hoành với những thể nghiệm của mình: Vương phá bỏ mọi hạn chế của chuyển thể kịch bản và tạo ra một cốt truyện hoàn toàn mới, ước lệ, phi thực, và mơ hồ tới mức dường như lỏng lẻo; còn Doyle phô diễn những góc quay cận cảnh mướt mát, cách bài trí ánh sáng đầy biến ảo, với những khung hình chỉ có thể miêu tả bằng hai chữ “thấm đẫm” sắc màu. Sự cách điệu và phá cách không hạn chế của cả kịch bản và quay phim chính là lý do khiến Đông Tà Tây Độc khó xem với đa số khán giả khi nó ra đời năm 1994; và tới nay nó vẫn được coi là bộ phim không được đánh giá đúng nhất của Vương.

Nếu những thay đổi về hình ảnh của bản Redux so với bản 1994 dừng lại ở chỗ màu sắc nồng hơn, đậm hơn, lấy sắc vàng sa mạc là chủ đạo, khiến cảnh vật đôi khi như tranh hơn là phim (!), thì phần nhạc của Redux đã thay đổi gần như hoàn toàn. Soundtrack cũ chủ yếu là nhạc điện tử, mang lại cho phim một âm hưởng lạ lẫm rất avant-garde, đặc biệt phù hợp với không gian nặng tính biểu tượng của phim. Bản Redux sử dụng lại một số giai điệu cũ, song được Ngô Đồng phối lại cho dàn nhạc giao hưởng, kết hợp với nhiều đoạn solo của Yo-Yo Ma, tuy dễ nghe hơn, nhưng lại ít nhiều tước đi cái độc đáo toàn diện của bộ phim khi mới ra đời.

Có câu “dưới tay tướng giỏi không có quân hèn,” và quả thực dưới tay Vương lần này có thể nói chỉ toàn cao thủ. Tuy nhiên với một kết cấu và phong cách kiểu Đông Tà Tây Độc thì có lẽ ngoại trừ Trương Quốc Vinh, nhân vật chính và đồng thời là người dẫn chuyện, các diễn viên khác không có đất (mà cũng không cần đất, khi một phần không nhỏ cái hay của phim nằm ngoài diễn xuất) để thể hiện nhiều. Dĩ nhiên không thể phủ nhận Lâm Thanh Hà là lựa chọn chính xác nhất cho Mộ Dung Yên/Yến, bởi ngoài cô ra khó ai có thể đóng một vai phản xuyến (nữ cải nam trang) ngọt ngào và tà dị đến thế. Cái phong lưu của Lương Gia Huy, nét nội tâm ở Lương Triều Vỹ, và gương mặt hài hước của Trương Học Hữu rất hợp với vai diễn của họ, và bởi thế cho nên lại không đòi hỏi cả ba phải nỗ lực quá nhiều để đóng tròn vai. Về Dương Thái Ni và Lưu Gia Linh, ngoài cảm giác thú vị khi được nhìn lại gương mặt hai mỹ nhân của điện ảnh Hong Kong ở thời hoàng kim, thì không có gì nhiều hơn để nói.

Khi được hỏi tại sao ông lại thực hiện bản Redux của Đông Tà Tây Độc, Vương Gia Vệ nói ông làm điều đó để tưởng nhớ Trương Quốc Vinh, và vì bộ phim “cũng giống một chai vang, cần thời gian để thở; có lẽ nó thuộc về hiện tại, thay vì 14 năm về trước.” Nhưng trong thâm tâm, Vương hẳn cũng không thực sự tin vào điều đó. Bởi cũng như ông đã và sẽ luôn đứng một mình giữa dòng chảy của điện ảnh Hong Kong, Đông Tà Tây Độc đã và sẽ luôn đứng một mình trong dòng phim kiếm hiệp. Hai con người góp phần lớn nhất tạo ra nó, người chết nay đã đi vào cõi mộng, còn người sống vẫn đam mê với cơn say ký ức kéo dài suốt bấy nhiêu năm.

Saturday, March 7, 2009

Film Credits hay “Tại sao tôi ngồi lại thêm năm phút?”

Định nghĩa một cách ngắn gọn nhất, film credits là danh sách những người đã tham gia thực hiện một tác phẩm điện ảnh. Một khái niệm dễ hiểu, và tưởng chừng như cực kỳ đơn giản, vốn đã trở nên rất quen thuộc với khán giả từ khi môn nghệ thuật thứ bảy mới khai sinh. Kỳ thực, có không ít chuyện có thể nói và đáng để nói về hai chữ ấy.

Như rất nhiều yếu tố khác cấu thành một nền công nghiệp điện ảnh đồ sộ như ngày nay, film credits ra đời từ rất sớm và đã trải qua một thời gian dài tồn tại và phát triển trước khi thực sự được định hình và chuẩn hóa vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước.

Thông thường, film credits của một bộ phim sẽ gồm hai phần: opening credits và ending credits. Như tên gọi của mình, opening credits xuất hiện ngay phần đầu bộ phim, liệt kê tên những thành viên quan trọng nhất như đạo diễn, nhà sản xuất, diễn viên chính… Ending credits xuất hiện sau khi bộ phim kết thúc, và kể từ thập niên 70 trở lại đây, nó thường là một danh sách dài dằng dặc liệt kê TẤT CẢ (vâng, tất cả!) những người đã có đóng góp vào quá trình sản xuất bộ phim. Nói cách khác, dù bạn chỉ là một nhân viên lo việc trang phục cho Batman, bạn cũng sẽ được xuất hiện bên cạnh Christian Bale và Heath Ledger trong ending credits của The Dark Knight. Dĩ nhiên bạn sẽ phải đợi khá lâu để có thể chỉ cho bạn gái thấy tên mình trên màn ảnh, nhưng dẫu sao đó cũng là một điều đáng để tự hào đấy chứ?

Như trên đã nói, opening credits xuất hiện ngay ở đầu phim, và trong một vài trường hợp nó có thể được biến tấu thành title sequence, và trở thành một phần không thể tách rời của nội dung phim. Một ví dụ tiêu biểu là series 007, từ lâu đã nổi tiếng với phần mở đầu đầy những pha hành động và rượt đuổi nghẹt thở. Bởi vậy nên khán giả (trừ những ai đến muộn) sẽ được/phải xem opening credits cho dù họ muốn hay không. Nhưng ending credits thì khác, nó chỉ đến khi bộ phim đã kết thúc (hay chí ít cũng có vẻ là đã kết thúc). Là những người rất tiết kiệm thời gian, không hề muốn bỏ phí dù chỉ năm phút cho những thứ vô bổ ấy, đa số khán giả Việt Nam sẽ đứng dậy và lũ lượt ra về ngay khi dòng credit đầu tiên xuất hiện. Câu hỏi đặt ra là: ending credits có đáng để chúng ta kiên nhẫn ngồi lại cho đến phút cuối cùng hay không. Câu trả lời là: Rất đáng.

Cái đáng thứ nhất, ngồi lại xem credits là một hành động tối thiểu để thể hiện sự tôn trọng đối với những người đã góp phần tạo nên một tác phẩm điện ảnh mà chúng ta vừa xem. Nếu một ca sĩ sau khi biểu diễn một bài hát được khen ngợi bằng một tràng vỗ tay, thì những người đứng đằng sau một bộ phim hay cũng xứng đáng được nhận sự trân trọng tương tự. Thật đáng tiếc khi ở Việt Nam chưa có cái gọi là standing ovation - một tập quán đẹp thường thấy ở các liên hoan phim, khi khán giả đồng loạt đứng lên và dành một tràng pháo tay cho bộ phim xuất sắc họ vừa xem. Có một số người tuy rất muốn ngồi lại song vì thấy ngại ngùng trước ánh mắt lạ lẫm của những người ra về hay của nhân viên nhà rạp nên lại thôi. Tại sao nhỉ? Nếu biết việc mình làm là đúng, thì việc gì phải ngại?

Cái đáng thứ hai là “trâu chậm uống nước trong.” Nếu ai từng kiên nhẫn ngồi xem hết credit của Shrek 2 thì chắc hẳn đã từng rất khoái chí khi biết rằng chú Lừa đã lấy ả Rồng và đẻ ra một lũ lừa con có cánh biết phun lửa. Giống như ở Shrek 2, không ít nhà làm phim cố tình đưa vào ending credits một vài chi tiết độc đáo liên quan đến nội dung phim. Porco Rosso, bộ phim hoạt hình của đạo diễn nổi tiếng Hayao Miyazaki, có kết thúc mở, nhưng phần credit lại có giấu một chi tiết tiết lộ cho khán giả về số phận của nhân vật chính. Ý thức được sự nhàm chán của một danh sách toàn tên dài dằng dặc, nhiều êkip làm phim đã bỏ công sức chăm chút cho phần ending credits để biến nó thành một sự ngạc nhiên thú vị cho những người yêu điện ảnh đích thực. Sự bất ngờ ấy có thể là một bài hát khiến khán giả thấy bùi ngùi hay phấn khích (bởi thường những bài hát kết phim bao giờ cũng rất hay), một phần hình ảnh đầy sáng tạo như của Juno, và cũng có thể là một ý tưởng ngộ nghĩnh như trong Cars.

Cái đáng thứ ba là trong phần credits có nhiều thông tin rất thú vị mà nếu chú ý một chút ta sẽ phát hiện ra. Một điều rất quan trọng của credit là thứ tự các bên tham gia làm phim (hay còn gọi là billing). Thông thường thì tên nhà sản xuất được xuất hiện trước tiên, chẳng hạn như A George Lucas Production. Nếu đạo diễn có tên tuổi thì sẽ có thêm dòng A Steven Spielberg film. Đôi khi, những cái tên diễn viên đầu tiên xuất hiện trong credit lại là vai phụ. Trong Superman 1978 cả Gene Hackman và Marlon Brando (vai phụ) đều được ghi danh trước Christopher Reeve (vai chính) vì cả hai là những diễn viên tên tuổi, còn Reeve chỉ mới vào nghề. Việc liệt kê diễn viên còn có nhiều nguyên tắc và cả những ngoại lệ phức tạp nữa mà người viết không thể trình bày hết trong khuôn khổ bài viết này, xin dành lại cho độc giả tự khám phá.

Ngoài ra, ending credits cũng là nơi tiết lộ khá nhiều thông tin như bối cảnh, quy mô và tầm vóc bộ phim. Credits của The Dark Night cho ta biết mỗi diễn viên chính và thứ đều có trợ lý riêng (Assistant to Mr. Ledger, Assistant to Mr. Oldman); Morgan Freeman có cả thợ làm tóc riêng. Điều này cho thấy quy mô tài chính của bộ phim, một điều không thể có ở một bộ phim độc lập kinh phí thấp. Tương tự như vậy, credits của The Fall (đạo diễn Tarsem Singh) cho biết bộ phim được thực hiện một cách cực kỳ công phu, lấy bối cảnh của Nam Phi, Ấn Độ, Anh, Bali, Fiji, Ý, Tây Ban Nha, Séc, Rumani, Trung Quốc, Nam Mỹ, ở mỗi nơi lại có một đơn vị riêng (unit) phục vụ cho quá trình làm phim.

Cái đáng thứ tư, rất đúng với hoàn cảnh Việt Nam, đó là các rạp chiếu bóng ở ta cực kỳ đông đúc và chật chội. Ngồi lại xem credits cũng là một cách rất hay để tránh phải chen nhau khi đi thang máy hay lấy xe ra về…

Có lẽ là có rất nhiều, thậm chí là quá nhiều lý do để trả lời câu hỏi “Tại sao tôi ngồi lại thêm năm phút?”. Nhưng đôi khi cũng chẳng cần một câu trả lời nào hết. Đôi khi bộ phim kết thúc, bỏ lại ta ngồi đó, hoặc ngẩn ngơ, hoặc thở phào một tiếng, quay sang người bạn đi cùng, cứ thế im lặng nhìn nhau và nghe dư âm của bộ phim đang sôi sục trong mình. Đôi khi, không cần phải có lý do.

Bài đăng trên 2! Đẹp số tháng 3/2009