Wednesday, May 6, 2009

X-men, hay X-man?


Trong số các superhero của Marvel Comics, Wolverine sở hữu một sự hấp dẫn đặc biệt. Đặc biệt là với chị em. Chẳng phải ngẫu nhiên mà 50% khán giả cuối tuần qua ở Bắc Mỹ là nữ. Cũng dễ hiểu thôi, vì anh là Hugh Jackman, ”The Sexiest Man Alive” của People. Nghĩ kỹ ra, trong X-men Trilogy, anh là vô đối. Xavier hói. Cyclop thư sinh èo uột. Magneto già, xấu, lại suốt ngày đội nồi cơm điện. Anh là cool nhất. Đẹp trai này, nam tính này, hoang dại này. Thân thế bí ẩn nữa này. X-men Origins: Wolverine giải đáp sự bí ẩn ấy, nhưng bù lại, nó khoác cho anh một vẻ hấp dẫn mới đối với chị em: một quá khứ bi thương.

Bất ngờ đầu tiên: anh rất già, già hơn ta tưởng rất nhiều. Bất ngờ thứ hai: anh có một ông anh. Bất ngờ thứ ba: anh có vợ. Bất ngờ thứ tư: bộ vuốt của anh là hàng “độ.” Chả là sau rất rất nhiều năm vào sinh ra tử cùng Victor (Liev Schreiber), ông anh cùng cha khác họ, James (hồi ấy anh tên James) chán ngấy cuộc sống chém giết, lui về vui thú điền viên cùng Kayla (Lynn Collins), tình yêu của đời anh. Một ngày kia, ông anh quý hóa biệt hiệu Sabretooth tìm đến và chấm dứt sáu năm hạnh phúc của đôi uyên ương. Logan (bây giờ anh tên Logan) gạt nước mắt lên đường báo thù rửa hận.

Hugh Jackman vẫn là Hugh Jackman, và nếu ai đến rạp chỉ vì anh, chỉ để xem anh thì chắc chắn người ấy sẽ không thất vọng. Wolverine vẫn hoang dại như thế, vẫn tràn đầy khí chất như thế. Nhưng ngoài anh ra thì quả thực không có gì nhiều để xem, dù hầu hết các vai diễn đều tốt. Lynn Collins là một Kayla duyên dáng và quyến rũ. Liev Schreiber là một Sabretooh man dại, vừa yêu vừa hận đứa em trai. Danny Huston là một Đại tá Stryker bị ám ảnh với siêu năng lực của những X-men như một đứa trẻ hiếu động với bộ đồ xếp hình vừa được tặng, nghĩa là tháo ra lắp vào và cuối cùng phá hỏng tất cả. Taylor Kitsch rất hứa hẹn trong vai Gambit, và có nhiều khả năng anh sẽ xuất hiện trong phần sau. Đôi vợ chồng già Wolverine xin tá túc cũng hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình trước khi phải kết thúc chúng một cách khá lãng xẹt…

Thật đáng tiếc khi một bộ phim mà ai đóng cũng tốt cuối cùng lại không thành một phim hay. Vấn đề là X-men Origins: Wolverine tập trung vào hành động, chỉ vào hành động mà thôi. Và công bằng mà nói, phần hành động của phim khá ổn, quay đẹp, máu lửa mãn nhãn, dù rằng đôi chỗ hơi cliché (đoạn Wolverine oai hùng bước về phía ống kính, sau lưng khói lửa mịt mùng chẳng hạn). Nếu có điểm gì chưa đạt trong CGI, thì đó là những cảnh phi thân của Sabretooth, nhìn hơi giả.

Gavin Hood là đạo diễn của TsotsiRendition, thế nên không ít người đã chờ đợi một câu chuyện có chiều sâu (chiều sâu xét theo tiêu chí của phim superhero), chí ít thì cũng được như hai phần đầu tiên của X-men Trilogy. Tiếc rằng không như vậy. Kịch bản khá đơn giản, và chỉ là cái nền để Wolverine thể hiện kỹ năng chiến đấu siêu hạng với bộ vuốt độ không đụng hàng, và thế là hết. Logan không mất đi vẻ hài hước phong trần của anh, nhưng thế là chưa đủ để cứu vãn cả bộ phim.

Những ai đã là fan của những phần trước hẳn sẽ có hai điểm thất vọng. Trước hết là vì Wolverine trong phim không có đối thủ xứng tầm, nhất là sau khi được lên level với bộ vuốt adamantium. Sabretooth cá tính rất xứng với vai trò tử địch của Wolverine thì hàng lại không đủ xịn. Deadpool (một kiểu “X-men tinh tuyển” tập hợp năng lực của các X-men khác) hàng cực xịn thì lại chẳng cá tính gì. Có lẽ không ít người sẽ nuối tiếc một Mystique ma quái và một Lady Deathstrike sát thủ trong hai phần đầu tiên.

Sau nữa, khi đi vào khai thác đời tư của Wolverine, câu chuyện đã đánh mất đi cái ẩn dụ xã hội của cả series. X-men tượng trưng cho sự nổi loạn của những con người “khác biệt” trong một xã hội chuẩn mực và đòi hỏi tuân thủ chuẩn mực. Hãy nhớ lại cậu bé ở trường tư của giáo sư Xavier trở về nhà và đã bị cả gia đình từ chối như thế nào. Bố mẹ chối bỏ cậu, em trai ghen tị cậu. X-men là cuộc chiến của những con người đòi được khác và đòi hỏi xã hội chấp nhận cái khác ấy. Xavier chọn con đường ôn hòa, còn Magneto chọn con đường bạo lực. Cuộc đối đầu giữa X-men và Brotherhood of Mutants ở ba phần trước, bởi thế, không chỉ là cuộc đối đầu của hai nhóm siêu nhân, mà còn là cuộc đối đầu của hai lý tưởng. Thiếu đi điều đó, X-men Origins: Wolverine cũng sẽ chỉ là một phim superhero như bao phim superhero khác mà thôi.

Shinjuku Incident – Nỗ lực không thôi chưa đủ


Nhắc đến Thành Long, người ta nghĩ ngay đến hai thứ: (1) võ thuật: (2) hài. Tóm lại, Thành Long = võ thuật + hài. Lần này không thế. Shinjuku Incident không hài và cũng không võ thuật, dù vẫn có không ít cảnh đánh nhau. Sau hơn ba mươi năm theo nghề và hơn chín mươi bộ phim, nỗ lực quay sang đóng một vai nghiêm túc trong một bộ phim nghiêm túc này tuy rất đáng trân trọng, nhưng hình như hơi quá muộn đối với Mr. Chan.

Thiết Đầu (Thành Long) là một anh nông dân nghèo ở miền đông bắc Trung Quốc, lặn lội lên thành phố tìm người yêu. Vấn đề: thành phố ấy là Tokyo, và con đường mà Thiết Đầu đi là nhập cư bất hợp pháp. Với sự giúp đỡ của cậu bạn đồng hương A Kiệt (Ngô Ngạn Tổ), anh bắt đầu cuộc sống mới ở Shinjuku, một quận tập trung rất đông người Hoa nhập cư trái phép. Ở đây, anh gặp Lệ Lệ (Phạm Băng Băng), một cô chủ quán bar tốt bụng, và tái ngộ với Tú Tú (Từ Tịnh Lôi), người anh tìm kiếm bấy lâu. Sau cuộc gặp gỡ không lời ấy, Thiết Đầu quyết tâm ở lại Tokyo, quyết tâm đi lên bằng cách dấn thân vào thế giới ngầm của Shinjuku.

Đây không phải là lần đầu tiên Nhĩ Đông Thăng làm phim về một chàng trai nông thôn phải đối diện với hiện thực thành thị tàn nhẫn. Shinjuku IncidentOne Night in Mongkok cùng chia sẻ sự tàn nhẫn ấy trong một bầu không khí u tối và ảm đạm, nhưng sự sai lầm trong casting và kịch bản khiến họ Nhĩ không tái lập được thành công ở One Night In Mongkok. “Chàng trai” Thành Long đã năm mươi lăm, và khi sánh vai với một Ngô Ngạn Tổ trẻ trung và một Phạm Băng Băng xinh đẹp thì dù đã được sự hỗ trợ tích cực của botox khuôn mặt anh cũng không có được sự thuyết phục và biểu cảm tương xứng với một vai diễn bi kịch như vậy. Nhưng anh đã cố gắng, và nếu so với Lý Liên Kiệt và Chân Tử Đan thì cố gắng ấy vẫn rất đáng để người ta khen ngợi.

Ngô Ngạn Tổ vốn là diễn viên ưa thích của Nhĩ Đông Thăng, và nếu không có Thành Long chắc ông đã chọn anh vào vai chính như ở One Night In Mongkok. Và anh cũng là điểm sáng lớn nhất trong phim bên cạnh Naoto Takenaka vai thanh tra Kitano. A Kiệt của anh có lẽ là một bi kịch còn đáng xót xa hơn nhiều cái bi kịch của nhân vật chính. Bên cạnh anh, Phạm Băng Băng rất thành công trong vai bình hoa mới tốt bụng, trong khi Từ Tịnh Lôi cũng xuất sắc không kém trong vai bình hoa cũ nhiều tâm sự của Thiết Đầu.

Câu chuyện của Shinjuku Incident có thể nói là hứa hẹn khi nó khai thác một đề tài mới mẻ: người Hoa nhập cư bất hợp pháp ở Nhật và mặt trái của cuộc sống ấy (và có lẽ vì nó quá trái nên bộ phim đã bị cấm chiếu ở Đại lục). Chỉ tiếc rằng kịch bản của phim khá lỏng, và lại lỏng ở đúng những thời điểm mấu chốt. Nếu sự ngây thơ của Thiết Đầu dễ hiểu thì sự thăng tiến dễ dàng của anh ở Shinjuku lại cho thấy sự ngây thơ đến khó hiểu của biên kịch, khi cái thế giới ngầm mà anh dấn thân vào có lúc rất thật mà cũng có lúc không thật chút nào, cả trong cái đơn giản và sự tàn nhẫn của nó. Cái kết dành cho Thiết Đầu là hợp lý, nhưng cái cách anh đi đến cái kết đó thì hơi quá khiên cưỡng.

Nếu không có điểm yếu về kịch bản thì có lẽ Shinjuku đã thành một phim rất đáng xem với sự mới mẻ cả trong đề tài và cách tiếp cận. Càng đáng tiếc hơn khi phim quay rất tốt, dưới một ống kính toan tính và đầy dụng ý của Kita Nobayashu. Nhĩ Đông Thăng rất giỏi dùng phim 2.35:1, chiều rộng của khuôn hình kết hợp với góc máy cận cảnh đã lột tả khá chân thực cái bức bối cả về không gian lẫn tinh thần của cuộc sống ở Shinjuku.

Nhưng thế vẫn là chưa đủ. Vấn đề của một phim như Shinjuku Incident là nó rất u tối. U tối là một lựa chọn mạo hiểm, bởi nếu thành công thì bộ phim sẽ lưu lại rất lâu trong ký ức người xem. Nếu không, những gì lưu lại chỉ là mệt mỏi.

Saturday, April 18, 2009

Túy sinh mộng tử


Từ lâu, “toàn sao” đã trở thành công thức quen thuộc để đảm bảo sự thành công về thương mại cho một bộ phim: Love Actually hay Ocean’s Eleven. Và gần đây nhất, Xích Bích. Tầm tầm về chất lượng, nhưng dư sức khiến khán giả choáng ngợp và no nê thỏa mãn với một bữa đại tiệc nhìn-ngắm-thần-tượng, đó là tất cả những gì những bộ phim “toàn sao” thường mang lại.

Phim của Vương Gia Vệ là ngoại lệ.

Đông Tà Tây Độc, lại là ngoại lệ trong ngoại lệ.

Lần tái xuất này của Đông Tà Tây Độc, mười lăm năm sau ngày bộ phim ra đời, sáu năm sau ngày mất của Trương Quốc Vinh, một lần nữa khẳng định điều đó.

Trên danh nghĩa, Đông Tà Tây Độc là sự tái hiện tác phẩm võ hiệp nổi tiếng của Kim Dung, Xạ điêu anh hùng truyện, lên màn bạc. Trên thực tế, những gì Vương Gia Vệ giữ lại chỉ là tên tuổi và danh hiệu của từng nhân vật. Câu chuyện của Đông Tà Tây Độc là một câu chuyện không bao giờ cũ mà người đạo diễn đeo kính đen lừng danh của điện ảnh Hong Kong sẽ còn kể mãi, sau hai thập kỷ theo nghề và sau chín bộ phim: câu chuyện của ký ức, của quá khứ, của hoài niệm, của nỗi khắc khoải vì rất nhớ và niềm tuyệt vọng khi chẳng thể nào quên, cho dù đã cạn hết một vò Túy sinh mộng tử.

Câu chuyện xảy ra khi Hoàng Dược Sư (Lương Gia Huy) chưa là Đông Tà, Âu Dương Phong (Trương Quốc Vinh) chưa thành Tây Độc, Hồng Thất Công (Trương Học Hữu) vẫn còn đủ mười ngón tay, và Độc Cô Cầu Bại (Lâm Thanh Hà) chưa nổi danh khắp giang hồ. Lấy Âu Dương Phong làm trung tâm, câu chuyện xoay quanh những tao ngộ của gã môi giới sát thủ ở vùng quan ngoại này với những con người khác nhau tìm tới gã: khách hàng có, bằng hữu có, và sát thủ làm thuê cũng có. Mỗi cuộc gặp gỡ lại khơi dậy một chút quá khứ đã ngủ yên trong lòng gã, thôi thúc gã một ngày kia trở lại Bạch Đà sơn, để rồi trở thành bá chủ võ lâm một miền Tây Vực.

Mặc dù rất xa rời nguyên tác của Kim Dung, nhưng có những giây phút Đông Tà Tây Độc lại mang đến cho người xem cái cảm giác đây mới là con người thực của Âu Dương Phong và Hoàng Dược Sư. Những con sóng bạc và những đóa hoa đào, phải chăng là nỗi ám ảnh khởi phát từ hai câu thơ ở Thí Kiếm đình, đảo Đào Hoa: Hoa đào bóng rụng phi thần kiếm, biển biếc triều dâng trỗi ngọc tiêu. Vương có lẽ cũng là người mê kiếm hiệp, theo cách của riêng ông, và bởi thế đã hiểu và diễn dịch lại nó trên góc nhìn của riêng ông, nghĩa là qua một cốt truyện hoàn toàn mới mẻ.

Cốt truyện của Đông Tà Tây Độc Redux hầu như không thay đổi so với bản gốc 1994, ngoại trừ một số cảnh giao đấu đã được cắt bỏ, có thể vì bản gốc bị hư hại, mà cũng có thể vì Vương chủ ý. Dù sao đi nữa, nó cũng khẳng định một điều: bất chấp cái tên kiếm hiệp, bất chấp những nhân vật kiếm hiệp, Đông Tà Tây Độc chưa bao giờ là một bộ phim kiếm hiệp. Kiếm hiệp, cũng như Hong Kong thập niên 60, nước Mỹ thời hiện đại, hay thế giới giả tưởng năm 2046, tất cả đều chỉ là cái nền cho câu chuyện về ký ức của ông mà thôi.

Lần này, câu chuyện được kể lại qua góc máy đẹp đến ngỡ ngàng của Christo-pher Doyle. Tên tuổi tay máy người Anh đã gắn liền với Vương qua rất nhiều tác phẩm, nhưng có lẽ Đông Tà Tây Độc là dịp để cả hai thả sức tung hoành với những thể nghiệm của mình: Vương phá bỏ mọi hạn chế của chuyển thể kịch bản và tạo ra một cốt truyện hoàn toàn mới, ước lệ, phi thực, và mơ hồ tới mức dường như lỏng lẻo; còn Doyle phô diễn những góc quay cận cảnh mướt mát, cách bài trí ánh sáng đầy biến ảo, với những khung hình chỉ có thể miêu tả bằng hai chữ “thấm đẫm” sắc màu. Sự cách điệu và phá cách không hạn chế của cả kịch bản và quay phim chính là lý do khiến Đông Tà Tây Độc khó xem với đa số khán giả khi nó ra đời năm 1994; và tới nay nó vẫn được coi là bộ phim không được đánh giá đúng nhất của Vương.

Nếu những thay đổi về hình ảnh của bản Redux so với bản 1994 dừng lại ở chỗ màu sắc nồng hơn, đậm hơn, lấy sắc vàng sa mạc là chủ đạo, khiến cảnh vật đôi khi như tranh hơn là phim (!), thì phần nhạc của Redux đã thay đổi gần như hoàn toàn. Soundtrack cũ chủ yếu là nhạc điện tử, mang lại cho phim một âm hưởng lạ lẫm rất avant-garde, đặc biệt phù hợp với không gian nặng tính biểu tượng của phim. Bản Redux sử dụng lại một số giai điệu cũ, song được Ngô Đồng phối lại cho dàn nhạc giao hưởng, kết hợp với nhiều đoạn solo của Yo-Yo Ma, tuy dễ nghe hơn, nhưng lại ít nhiều tước đi cái độc đáo toàn diện của bộ phim khi mới ra đời.

Có câu “dưới tay tướng giỏi không có quân hèn,” và quả thực dưới tay Vương lần này có thể nói chỉ toàn cao thủ. Tuy nhiên với một kết cấu và phong cách kiểu Đông Tà Tây Độc thì có lẽ ngoại trừ Trương Quốc Vinh, nhân vật chính và đồng thời là người dẫn chuyện, các diễn viên khác không có đất (mà cũng không cần đất, khi một phần không nhỏ cái hay của phim nằm ngoài diễn xuất) để thể hiện nhiều. Dĩ nhiên không thể phủ nhận Lâm Thanh Hà là lựa chọn chính xác nhất cho Mộ Dung Yên/Yến, bởi ngoài cô ra khó ai có thể đóng một vai phản xuyến (nữ cải nam trang) ngọt ngào và tà dị đến thế. Cái phong lưu của Lương Gia Huy, nét nội tâm ở Lương Triều Vỹ, và gương mặt hài hước của Trương Học Hữu rất hợp với vai diễn của họ, và bởi thế cho nên lại không đòi hỏi cả ba phải nỗ lực quá nhiều để đóng tròn vai. Về Dương Thái Ni và Lưu Gia Linh, ngoài cảm giác thú vị khi được nhìn lại gương mặt hai mỹ nhân của điện ảnh Hong Kong ở thời hoàng kim, thì không có gì nhiều hơn để nói.

Khi được hỏi tại sao ông lại thực hiện bản Redux của Đông Tà Tây Độc, Vương Gia Vệ nói ông làm điều đó để tưởng nhớ Trương Quốc Vinh, và vì bộ phim “cũng giống một chai vang, cần thời gian để thở; có lẽ nó thuộc về hiện tại, thay vì 14 năm về trước.” Nhưng trong thâm tâm, Vương hẳn cũng không thực sự tin vào điều đó. Bởi cũng như ông đã và sẽ luôn đứng một mình giữa dòng chảy của điện ảnh Hong Kong, Đông Tà Tây Độc đã và sẽ luôn đứng một mình trong dòng phim kiếm hiệp. Hai con người góp phần lớn nhất tạo ra nó, người chết nay đã đi vào cõi mộng, còn người sống vẫn đam mê với cơn say ký ức kéo dài suốt bấy nhiêu năm.