Thursday, July 2, 2009

Thăm lại Đèn lồng đỏ treo cao


Cái tên Trương Nghệ Mưu từ lâu đã không còn xa lạ với khán giả Việt Nam. Trong những phim của Trương, Đèn lồng đỏ treo cao lại càng quen thuộc nữa. Một phim rất xưa, và được mổ xẻ cũng đã rất nhiều.

Vậy thì vì sao?

Mấy năm gần đây, cách nhìn của tôi về Trương dần thay đổi. Sự thay đổi ấy, gần như là một nỗi đau. Trong lứa đạo diễn tốt nghiệp Học viện Điện ảnh Bắc Kinh năm 1982, Trương là người nổi danh nhất. Hơn cả Trần Khải Ca. Hơn cả Điền Tráng Tráng. Công bằng mà nói, Trương xứng đáng được như vậy. Chỉ có điều, Trương của cái thời Phải sống đã không còn nữa. Ống kính của Trương, một quay phim chuyển nghề đạo diễn, đến tận bây giờ vẫn đẹp, đẹp đến sững sờ và run rẩy. Nhưng không hiểu vì sao vẻ lộng lẫy của Hoàng kim giáp lại khiến tôi nhớ tiếc cái chân thành của Not One Less, sự hoành tráng của Anh hùng lại làm tôi lưu luyến nét mộc mạc của nàng Thu Cúc. Không chỉ bị cuốn vào dòng chảy thương mại trong điện ảnh, Trương còn đánh mất đi cái lăng kính hiện thực phê phán đã từng làm nên tên tuổi của mình.

Thế nên, lần này tôi xem lại Đại hồng đăng lung cao cao quải, không chỉ bằng đôi mắt đã già đi mười tuổi, mà còn với rất nhiều khắt khe và hoài niệm.

Tôi sẽ không nói về đề tài, về nội dung, mà về những điều Trương cố ý. Đã làm phim thì có lẽ chẳng có gì vô tình, nhưng có những sự cố ý mang nhiều tính cố ý hơn những sự cố ý khác.

Sự cố ý đầu tiên, là cố ý đặt tên. Nói theo kiểu “Ở đây có bán cá tươi” thì cái tên tiếng Trung rất dài và rất thừa: chỉ cần bốn chữ Hồng đăng cao quải là đủ, là tương đương với cái tên tiếng Anh. Vậy thì vì sao? Chữ Đại là cái khí phái đại gia của nhà họ Trần. Chữ lung là lồng. Lồng đèn và lồng nhốt thân phận con người. Âm hưởng của điệp từ cao cao gợi lên ước vọng của bốn người đàn bà trong Trần gia: được ngước đầu lên và thấy ánh hồng đăng tỏa sáng trên đầu. Trớ trêu thay, những con người khao khát ngục tù. Và cao cao cũng có nghĩa là ngoài tầm tay với: họ bất lực, không thể định đoạt số phận của mình.

Sự cố ý thứ hai, là cố ý không quay khuôn mặt. Từ đầu đến cuối, Trần lão gia là người vô diện. Điều này chắc ai cũng thấy. Nhưng còn một nhân vật không mặt thứ hai mà có lẽ sẽ nhiều người quên: bà mẹ kế của Dung Liên. Ở cảnh đầu tiên, bà ta tồn tại và cũng không tồn tại. Một người đẩy cô đi. Người kia tiếp nhận cô. Cả hai không có mặt, không có tên. Cả hai đại diện cho thứ quyền lực vô danh của xã hội phong kiến.

Sự cố ý thứ ba, là cố ý không quay toàn cảnh. Kiều gia đại viện hiển nhiên là rất đẹp, song Trương không hề sử dụng dù chỉ một cú máy panorama. Từng lối đi, từng mảnh sân, từng gian phòng, từng mái hiên hiện lên trước ống kính, nhưng đến khi bộ phim kết thúc khán giả vẫn không thể hình dung ra trọn vẹn tòa biệt viện ấy. Hiệu ứng của thủ pháp này là cảm giác bức bối, tù túng của không gian. Dung Liên sống trong một thế giới không có bầu trời, và khi bầu trời xuất hiện mỗi lần cô lên gác, nó đều gắn liền với bóng ma của căn phòng trên sân thượng: một kết cục thảm khốc cho ai muốn vượt thoát, muốn tìm cho mình một khoảng trời riêng.

Sự cố ý thứ tư, là cố ý quay đối xứng. Thông thường, đối xứng là điều kỵ trong quay phim và nhiếp ảnh. Nhưng Trương vận dụng nó rất khéo, dùng những hình ảnh đối xứng lặp đi lặp lại của những ngọn đèn và kiến trúc làm ẩn dụ cho Quy Củ, một thứ quy củ bóp nghẹt kiếp người.

Sự cố ý thứ năm, là cố ý trong âm thanh. Tiếng lục lạc xoa bóp chân hẳn ai cũng để ý; nhưng bên cạnh đó còn có một âm thanh khác là đối trọng của nó: tiếng ống bương thổi tắt những ngọn đèn. Hai âm thanh này hoàn toàn trái ngược nhau: một cao vút, một trầm đục; một lặp đi lặp lại, một độc âm, dứt khoát. Nếu coi tiếng lục lạc là hỷ thanh, báo hiệu đêm may mắn của một người đàn bà, thì tiếng ống bương là bi thanh, báo hiệu sự kết thúc của một vòng ân sủng. Hiệu ứng của nó càng mãnh liệt hơn khi nối tiếp mệnh lệnh “Phong đăng!” đầy nghiệt ngã của Trần lão gia lúc ông ta phát hiện cái thai của Dung Liên là giả.

Sự cố ý thứ sáu, là cố ý nhấn mạnh vào nghi thức (rituals). Mọi sinh hoạt của Trần gia đều được nghi thức hóa: ăn, ngủ, giao tiếp, tình dục. Án tử hình dành cho Mai San cũng là một nghi thức không hơn không kém: nó là sự tái hiện quá khứ, do những người hầu phục tùng tuyệt đối thực hiện theo cái cách họ vẫn ngày ngày thực hiện việc massage chân, thắp đèn, tắt đèn… Cả kịch bản của Nghê Chấn lẫn quay phim của Trương đều nhấn mạnh điều đó, nhấn mạnh sự lãnh khốc vô tình của quy củ, thứ quy củ bất cận nhân tình, thứ quy củ sát nhân. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà Trương bị giới phê bình trong nước phê phán là Orientalist – cố ý phô trương cái kỳ đặc của Trung Hoa để thỏa mãn con mắt khán giả phương Tây. Và quan điểm này, xét cho cùng, cũng không phải là không có lý.

Friday, June 19, 2009

The Bank Job


Tháng Chín năm 1971, tại ngân hàng Lloyds trên phố Baker ở London xảy ra một vụ cướp khiến báo chí phát điên vì những tình tiết ly kỳ của nó. Vụ cướp được biết đến dưới cái tên “the walkie-talkie robbery,” do một người chơi radio nghiệp dư tình cờ nghe và ghi âm được tín hiệu bộ đàm của bọn cướp. Sau đó, chính phủ Anh yêu cầu báo chí ngừng đưa tin vì vụ việc liên quan đến bí mật quốc gia (?!)

The Bank Job của Roger Donaldson cho ta biết nội tình vụ án và sự thật ẩn đằng sau nó.

Terry (Jason Statham) đang gặp khó khăn thì người tình cũ Martine Love (Saffron Burrows) xuất hiện và rủ gã cướp một ngân hàng. Terry nhận lời, không biết rằng Martine bị tình báo Anh lợi dụng để đánh cắp chiếc hộp bảo mật chứa những bức ảnh tai tiếng của một thành viên trong hoàng gia Anh, bị Michael X (Peter de Jersey), một thủ lĩnh chính trị da đen, lợi dụng để uy hiếp chính phủ. Trớ trêu thay, trong số những thứ băng Terry cướp đi có cả những bức ảnh còn tai tiếng hơn nhiều của các nhân vật tai to mặt lớn trong chính giới Anh, và cuốn sổ ghi chép tiền hối lộ cảnh sát của Lew Vogel (David Suchet), trùm phim porn ở London. Bọn cướp, lúc này lại trở thành những kẻ trong sạch nhất trong số các đối tượng liên đới, bị mắc kẹt giữa các phe nhóm và buộc phải tìm cho mình một lối thoát…

The Bank Job có lẽ là phim được nhất của Roger Donalson trong những năm gần đây, với một kịch bản khá chặt chẽ, khéo léo do Dick Clement và Ian La Frenais, tác giả của Across the Universe Flushed Away chấp bút, phát triển từ băng ghi âm cuộc đối thoại qua điện đàm của băng cướp năm 71, cùng với một “nguồn tin bí mật”. Kịch bản phim khá mạnh bạo khi ám chỉ rất rõ ràng danh tính của nhân vật trong hoàng gia có mặt trong những bức ảnh tai tiếng nọ.

Thật trùng hợp khi trong một tuần có đến hai phim con/heist ra mắt ở Việt NamBrothers BloomBank Job. Cái hài hước ở phim thứ nhất bay bổng bao nhiêu thì cái hài hước ở phim thứ hai tối bấy nhiêu. Bank Job, với thứ accent Anh nặng trịch và câu chuyện về thế giới ngầm London những năm 70, gợi cho người ta nhớ đến Snatch của Guy Ritchie (cũng Jason Statham). Những twists and turns của phim dù chưa quái dị và bay được như Snatch, mức độ bạo lực cũng kém hơn, nhưng vẫn đủ làm khán giả thích thú và bị cuốn vào từ đầu chí cuối nhờ sự kết hợp khá khéo léo giữa thriller và dark comedy.

Bank Job, tương tự như Ocean’s Eleven, là một phim có ensemble cast, nghĩa là quy tụ một dàn diễn viên đông đảo và đất diễn được chia tương đối đều giữa các vai. Thách thức đối với những phim kiểu này là kịch bản phải đủ mạnh để khắc họa được từng nhân vật, khi không một ai được ưu tiên độc diễn trên màn ảnh. Bank Job giải quyết vấn đề ấy rất thành công, đồng thời không sa đà vào khía cạnh “kỹ thuật” cầu kỳ rối rắm như không ít phim cướp nhà băng khác – xét cho cùng thì đây là năm 1971 và băng cướp của Terry cũng chỉ là những tên tội phạm nghiệp dư.

Dàn diễn viên của Bank Job có thể nói đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Jason Statham diễn rất đạt Terry Feather, vai “chính nhất” của phim, đảm nhiệm thành công việc kết nối các tuyến nhân vật, trong khi các đồng nghiệp của anh dù vào những vai phụ hơn nhưng cũng không hề chịu lép vế: Daniel Mays ngộ nghĩnh trong vai một cựu diễn viên phim porn đổi nghề đi cướp ngân hàng. Richarld Lintern diễn rất ra một nhân viên MI5 điển hình, lạnh lùng và toan tính; còn David Suchet nhập vai trùm phim porn cũng ngọt không kém. Cuối cùng, không thể không nhắc đến nữ điệp viên Gale Benson, người chỉ xuất hiện trong vài cảnh và có số phận không lấy gì làm tốt đẹp nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc về một vòng ba tuyệt vời (có lẽ sẽ bị cắt khi ra rạp ở Việt Nam). Nếu có điều gì đáng tiếc ở phim này thì đó là vai nữ chính Martine quá cao, quá gầy, quá già, và quá xấu.

Sunday, June 14, 2009

Terminator: Salvation unaccomplished

Trong số những bộ phim được chờ đợi nhất ở Việt Nam mùa hè 2009, hẳn không thể thiếu vắng Terminator: Salvation. Lý do thì nhiều. Nhưng có một lý do hết sức đặc biệt: với nhiều người, cái tên Terminator đã gắn liền với những hoài niệm của một thuở học trò dấm dúi thuê băng.

Vào cái thời mà phim hay thì, ít phim dở thì nhiều, phim hạng B lại càng nhiều vô kể ấy, Terminator 2 không chỉ là một bộ phim. Xét về kịch bản, T2 không xuất sắc, sáng tạo bằng T1, nhưng đối với rất nhiều cậu bé ngày đó, hơn tất cả những Van Damme, Lundgren, Rambo, Terminator đại diện cho action, cho Hollywood, cho những gì oách nhất, kỳ ảo nhất, hoang đường nhất điện ảnh có thể đem lại. Gần hai thập kỷ đã qua, kỹ xảo điện ảnh đã tiến những bước dài, song những gì bộ tứ ngày ấy, đặc biệt là T-800, khắc vào óc người xem thì có lẽ không bao giờ phai nhạt.

Sự chờ đợi ấy càng nhân lên gấp bội sau thất bại của phần 3, Rise (or Fall?) of the Machine và thành công của Dark Knight. Không ít người hy vọng Christian Bale sẽ khôi phục được cái huy hoàng một thuở của Terminator. Hơn nữa, T4 lại là câu chuyện về tương lai: cái tương lai đầy khiếp sợ mà chúng ta mới chỉ thấp thoáng thấy trong ba phần trước, nay đã thành hiện thực. Thế thì ai mà không háo hức…

… để rồi thất vọng.

Công bằng mà nói, T4 không phải là quá tệ. Nếu là một phim hành động thông thường thì nó chẳng đến nỗi nào, hoành tráng máu lửa vào loại nhất mùa phim hè năm nay, có lẽ chỉ thua Transformer 2 mà thôi. Nhưng dưới cái bóng của T2 và kỳ vọng của khán giả thì nó quả là một nỗi thất vọng. Nói theo kiểu Tây là “It’s nowhere near T2.” Giây phút T4 tiến đến gần T2 nhất, nếu có, là khi John Connor ấn play và từ chiếc đài cũ vang lên giọng nói lạnh lùng, kiên quyết của Sarah.

Có lẽ đó chính là điểm mà T4 thiếu – một cảm giác căng thẳng, sợ hãi, khủng bố đến nghẹt thở mà T2 từng đem lại, cái cảm giác nặng trĩu trước mối đe dọa ghê gớm không chỉ với sinh mạng của hai nhân vật chính, mà với vận mệnh cả nhân loại. Giọng nói của Sarah chứa đựng tất cả những điều đó.

Cái tương lai mà Sarah lo sợ đã thành hiện thực. Năm 2018, mười bốn năm sau ngày tận thế, Skynet tiếp tục nỗ lực tiêu diệt tàn dư của nhân loại. John Connor (Christian Bale) lúc này đã là một thành viên chủ chốt của phe Kháng chiến. Năm 2003, Marcus Wright (Sam Worthington) lĩnh án tử hình và đồng ý hiến xác cho nghiên cứu của Cyberdynes do tiến sĩ Serena Kogan (Helena Bonham Carter) tiến hành. Mười lăm năm sau, tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, Marcus cứu được Blair Williams (Moon Bloodgood), một nữ phi công của quân Kháng chiến và được cô đưa về căn cứ. Connor quyết tâm cứu Kyle Reese (Anton Yelchin), người sẽ quay về quá khứ và trở thành cha anh, khỏi tay Skynet bằng mọi giá. Sự xuất hiện của Marcus là hy vọng duy nhất của anh.

Khi Marcus chui ra khỏi đống đổ nát của vụ nổ hạt nhân ở phòng thí nghiệm của Skynet và đi bộ đến Los Angeles, trước mắt anh là một thế giới hoang tàn và diệt vong. Nếu xét riêng phần dàn dựng bối cảnh và quay phim, McG đã khá thành công khi tạo nên một thế giới hậu tận thế chết chóc qua một lăng kính đầy u tối. Những trường đoạn hành động ở nửa đầu phim khá tốt, và Shane Hurlbut đã có một cảnh quay đặc biệt xuất sắc với chiếc trực thăng của John Connor. Nhưng nỗ lực của vị đạo diễn Charlie’s Angels chỉ dừng ở đó. Kịch bản của T4 không những thiếu vắng sự sáng tạo tuyệt đối của T1, độ cool của T2, mà còn quá khiên cưỡng. Cốt truyện đơn giản không thể hiện được sự khủng khiếp khi kẻ thù của nhân loại là những cỗ máy –điều Cameron làm được chỉ bằng vài hình ảnh ngắn ngủi về cuộc chiến tranh tương lai ở đầu T2. Nếu thay Skynet bằng một chế độ độc tài thì câu chuyện sẽ không khác bao nhiêu, và T4 sẽ trở thành một phiên bản kém hấp dẫn hơn của Equilibrium (cũng với Christian Bale thủ vai chính).

Có lẽ đòi đóng John Connor bằng được là sai lầm lớn nhất của Bale, còn nhượng bộ anh là sai lầm lớn nhất của McG. Kịch bản của phim, lẽ ra xoay quanh Marcus Wright, vai diễn McG nhắm cho anh, vì vậy buộc phải viết lại để nâng vai trò của John Connor lên - so với Worthington, Bale mới là ngôi sao chính. Buộc phải theo cả hai tuyến nhân vật, câu chuyện vì thế mà lỏng ra và không đủ thời gian tích lũy kịch tính cần thiết, vốn là điểm rất mạnh của T2. Những sự lặp lại motif của T2 như đoạn Connor vs. T-800 hay cái kết càng khiến sự khác biệt ấy nổi bật hơn. Rải rác đâu đó là vài chi tiết độc đáo, nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ làm nên một sequel xứng đáng. Trong khi đó, John Connor hoàn toàn bị Marcus Wright lấn át – đây là lần thứ hai Bale bị lu mờ trước sự tỏa sáng của một người Úc – đầu tiên là Heath Ledger và giờ là Sam Worthington. Có lẽ mười bốn năm chiến đấu với những cỗ máy đã khiến John sắt lại, và xét về cảm xúc thì người máy hơn là John chứ không phải Marcus. Bryce Dallas Howard, người thay thế Clair Danes trong vai Kate Connor, không để lại nhiều ấn tượng.

Cuối cùng, có lẽ nên nói đôi chút về những robot concept trong T4. Cái đáng sợ của Terminator nằm trong sự kết hợp giữa sức mạnh máy móc với bề ngoài và trí thông minh của con người, trong những mô xương kim loại lòi ra dưới lớp da bị đạn bắn thủng lỗ chỗ, hay trong cảnh T-1000 một tay cầm điện thoại giả giọng bà mẹ nuôi dụ John về còn tay kia đâm suốt đầu ông bố. Robot của T4 tuy đa dạng về chủng loại nhưng không tạo được cảm giác ấy. Con hydrobot đầu tiên giống một con cá sắp bị làm thịt, khiến khán giả buồn cười hơn là sợ hãi. Mất đi cảm giác khủng bố ấy, Terminator không còn là Terminator nữa.