Monday, April 16, 2012

Master and Commander

Chiến tranh có lẽ là một thể loại (genre) điện ảnh yêu thích của đàn ông. Nhưng trong số các tiểu thể loại (sub-genre) của phim chiến tranh, lại có một thể loại đặc biệt dành cho đàn ông: hải chiến cổ điển. Và khi ta nói cổ điển, nghĩa là giai đoạn từ thế kỷ XVI đến XIX, khi các cường quốc Châu Âu cạnh tranh quyết liệt hòng giành giật ngôi bá chủ đại dương.

Vì sao những câu chuyện hải chiến lại hấp dẫn cánh đàn ông? Vì ba lẽ: thứ nhất, hàng hải hao giờ cũng là cuộc phiêu lưu vừa khắc nghiệt vừa lãng mạn vào bậc nhất trong lịch sử (hãy nhớ Columbus, hãy nhớ Magellan!); thứ hai, trên biển cả, mỗi con tàu là một thế giới thu nhỏ và hoàn toàn biệt lập với bên ngoài. Đó là thế giới của riêng đàn ông, cũng là của vô số mẫu đàn ông: từ vị thuyền trưởng lừng danh đến gã hải tặc độc ác, từ con sói biển lão luyện đến chú bé học việc, từ viên bác sĩ đến tay tù khổ sai; thứ ba, đại dương, bão tố và kẻ thù là thứ thuốc thử tốt nhất để khơi dậy những phẩm chất tinh túy trong mỗi người đàn ông: lòng dũng cảm, trí thông minh, đức kiên trì, và sự từng trải. Điều đó lại đặc biệt đúng trong thời kỳ hàng hải chưa có nhiều dấu ấn của cuộc cách mạng công nghiệp, và mỗi chuyến hải hành đều là thử thách lớn lao với con người, một thứ Mer des Hommes rất gần với Terre des Hommes[1] của Saint-Exupéry.

Đặc biệt là thế, nhưng điện ảnh thế giới dường như lại không nhiều tác phẩm thực sự để lại ấn tượng sâu sắc về đề tài này. Một bộ phim hiếm hoi trong số đó, chính là “kẻ thất bại vĩ đại” của Oscar lần thứ 76 – Master and Commander: The Far Side of the World.

Master and Commander là bộ phim đầu tiên (và rất được mong đợi) đưa hai nhân vật của series 21 cuốn tiểu thuyết hải chiến của Patrick O’Brian là Jack Aubrey và Stephen Maturin lên màn bạc. Aubrey là một thuyền trưởng lão luyện trong Hải quân Hoàng gia Anh, còn Maturin là một bác sĩ phẫu thuật, nhà tự nhiên học, và điệp viên của Hải quân. Họ quen biết nhau từ tình yêu chung dành cho âm nhạc (Aubrey chơi violin còn Maturin kéo cello) và từ năm 1800 đã cùng sánh vai trên những chuyến hải hành. Năm 1805, trong thời kỳ Chiến tranh Napoleon, Aubrey khi đang rong ruổi ở biển Caribbean trên chiếc HMS Surprise chở 28 pháo và 197 linh hồn thì có lệnh truy đuổi chiếc Acheron của quân Pháp. Đối mặt với một con tàu hơn hẳn về tốc độ và gấp rưỡi về hỏa lực, nhưng nhờ mưu trí của bản thân, lòng dũng cảm của thủy thủ đoàn, cộng với một chút may mắn, Aubrey đã dẫn dắt Surprise đến chiến thắng. Master and Commander kể về câu chuyện đó nhưng không dừng ở đó, nó còn là bản anh hùng ca về tình bằng hữu của cặp song tấu Aubrey – Maturin, về cuộc sống và tình đồng đội của những gã đàn ông chung một chiến thuyền, về vẻ huy hoàng và sự tàn nhẫn của biển khơi…

Peter Weir, đạo diễn của Master and Commander, đã không nhầm khi chọn Russell Crowe, người sở hữu một thứ thần thái và khí chất đặc biệt của kẻ sinh ra để làm thủ lĩnh (đã được minh chứng với Gladiator), một kiểu Hạng Vũ của phương Tây. Từ Aubrey ta thấy toát ra uy thế của một kẻ tự tin có thể làm chủ vận mệnh, làm chủ đại dương. Và Paul Bettany là một lựa chọn không thể phù hợp hơn cho vai chàng bác sĩ lập dị Maturin – một Charles Darwin lạc bước lên tàu chiến.

Điều quý giá nhất ở Master and Commander là nó khắc họa cuộc sống trên những chiến hạm thời xưa một cách cực kỳ trung thực, từ những đêm dài tĩnh lặng tới những cuộc giao tranh ngắn ngủi mà khốc liệt và thường cướp đi rất nhiều sinh mệnh, từ những thời khắc thủy thủ đoàn hồn nhiên hò hát bên nhau đến những giây phút nghi kỵ lẫn nhau bởi tinh thần sa sút và tuyệt vọng. Như Jack Aubrey chăm chút chiếc Surprise, Peter Weir chăm chút bộ phim trong từng chi tiết – từ những chiếc võng trắng đong đưa một cách bình yên dưới ánh nến bập bùng đến bức phù điêu trên mũi thuyền sứt sẹo vì đạn pháo. Không hoang đường và lừa mị như Pirates of the Caribbean, Master and Commander đem đến cho ta một tay bác sĩ múc não (theo nghĩa đen của từ này) người bị thương dưới ánh mắt tò mò của thủy thủ đoàn, và một cậu bé cắn chặt răng vào thanh gỗ bởi không có thuốc mê khi phẫu thuật cưa tay. Trong thế giới có tên là Surprise, các cậu bé buộc phải trở thành đàn ông, bởi vì Thuyền trưởng Aubrey chỉ có một cách xưng hô cho tất cả: Mister, Mister, và Mister.

Nhưng viên thuyền trưởng luôn đòi hỏi những người đàn ông mười ba tuổi của mình “đứng thẳng trên boong” lại cũng là người mở đầu bữa tối của các sĩ quan bằng lời chúc: “Cho vợ và tình nương!” và cùng Maturin kết thúc nó với Mozart, Correlli và Boccherini. Tình bằng hữu giữa Aubrey với Maturin là thứ tình cảm thuần phác nhất và nguyên thủy nhất, bởi mọi màu mè hoa lệ đã bị sóng gió Đại Tây Dương gột sạch lâu rồi. Họ giận nhau như những người đàn ông và yêu quý nhau cũng như những người đàn ông. Tình yêu âm nhạc mang họ đến với nhau và theo thời gian, hun đúc tình bạn của họ. Aubrey đè nén bản năng của một con thú săn mồi vì Maturin, và Maturin ngoảnh mặt trước cám dỗ của thiên nhiên vì Aubrey. Thứ tình cảm ấy, phải chăng, là đặc hữu của đám hải hồ huynh đệ? Bởi vì chúng ta nhìn thấy điều ấy không chỉ ở riêng Aubrey hay Maturin, mà ở tất cả 195 con người còn lại của Surprise. Sự kính trọng tới mức gần như sùng bái của thủy thủ với thuyền trưởng, sự gắn bó giữa bốn cậu bé tập sự sĩ quan, sự đoàn kết tự nhiên giữa những người con của biển, tất cả đã hội tụ lại để làm nên vẻ đẹp đầy nam tính của bộ phim.

Bên cạnh bầu nhiệt huyết tràn ngập boong tàu khiến người xem khó lòng không xúc động, Master and Commander còn mang đến cho khán giả một luồng cảm xúc khác: nỗi hồi hộp của cuộc rượt đuổi nghẹt thở giữa Aubrey với Acheron. Điều độc đáo là trong suốt 110 phút đầu bộ phim chỉ sử dụng một góc nhìn duy nhất từ Surprise; đến khi hai tàu áp mạn người xem mới được nhìn tận mắt “con tàu ma” đã ám ảnh Jack Aubrey. Góc nhìn một chiều này, kết hợp với việc sử dụng máy quay cầm tay theo sát từng bước đi của Aubrey trong các cảnh giao tranh khiến khán giả có cảm giác như mình đang là một phần của trận đánh.

Trận đánh ấy, với Aubrey, có lẽ không thuần túy chỉ là một trận hải chiến. Anh ta đuổi theo Acheron không phải vì lòng kiêu hãnh, mà vì khát khao muốn chứng nghiệm xem giữa con người và công nghệ, ai sẽ thắng? Và cuối cùng, con người đã thắng! Với sự trợ giúp của thiên nhiên, trong hình hài một chú bọ que.
____________________

[1] Cuốn hồi ký của Saint Exupery kể về cuộc đời những phi công chở thư tín của hãng Aéropostale đến Bắc Sahara và dãy Andes ở Nam Mỹ trước Thế chiến II, đã được Bùi Giáng dịch sang tiếng Việt với cái tên Cõi người ta.


Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 5/2012

Wednesday, March 14, 2012

Túy lý khiêu đăng khán kiếm

Trong thế giới kiếm hiệp, có hai quan ải đã đi vào huyền thoại. Thứ nhất là Nhạn Môn, nơi khởi đầu và kết thúc một đời hào kiệt của Kiều Phong. Thứ hai là Long Môn, nguồn cảm hứng dồi dào của điện ảnh võ hiệp nửa thế kỷ qua. Nếu Long Môn khách sạn 1967 đặc sắc vì tính nguyên bản (original), Long Môn phi giáp 2011 hấp dẫn vì sự đột phá trong kỹ xảo, thì Tân Long Môn khách sạn 1992 lại mê người vì hội tụ những gì tinh túy nhất của phim võ hiệp Hong Kong thập niên 80 và 90.

Chưa xem phim, chỉ cần nhìn thông tin, đã thấy Tân Long Môn có bảy cái tuyệt. Từ Khắc sản xuất là cái tuyệt thứ nhất. Câu chuyện kinh điển minh tranh ám đấu ở một khách điếm vùng quan ngoại là cái tuyệt thứ hai. Trình Tiểu Đông chỉ đạo võ thuật là cái tuyệt thứ ba. Huỳnh Nhạc Thái (chín lần đoạt giải quay phim của Hong Kong) đứng sau ống kính là cái tuyệt thứ tư. Lâm Thanh Hà (vai Khưu Mạc Ngôn), Lương Gia Huy (Châu Hoài Ân), Trương Mạn Ngọc (Kim Tương Ngọc) chính là tam tuyệt còn lại. Một cơ duyên như thế, có thể nói là vô cùng hiếm gặp, và Từ Khắc đã không bỏ lỡ nó: cuộc kỳ ngộ Long Môn, dưới bàn tay ông, đã trở thành kinh điển. Kinh điển đến nỗi ngày 24 tháng 2 mới đây, bản phục dựng (remastered) của bộ phim đã tái xuất trên màn ảnh rộng, sau hai mươi năm danh động giang hồ.

Cô nhi của Thượng thư Dương Vũ Hiên được nữ hiệp Khưu Mạc Ngôn bảo hộ khỏi sự truy sát của Đông xưởng (KGB của nhà Minh) tìm đến Long Môn khách sạn, điểm hẹn với Châu Hoài An, ái tướng của Dương thượng thư. Đây hóa ra là một hắc điếm với món đặc sản bánh bao nhân thịt người. Châu, Khưu vừa phải đương đầu với nha trảo của Đông xưởng giả trang làm khách trọ, vừa phải đối mặt với cô chủ quán tinh quái Kim Tương Ngọc để tìm được bí đạo dẫn ra ngoài quan ải, trong khi đại quân do đích thân Đốc xưởng Tào Thiếu Khâm (Chân Tử Đan) truy đuổi đang tới gần…

Cái đẹp ở Tân Long môn đến trước hết từ sự xuất sắc của ba diễn viên chính. Chỉ riêng diễn xuất của ba người họ thôi đã dư sức giành cho Tân Long môn một vị trí trang trọng trong dòng phim kiếm hiệp. Nhân vật của Lương Gia Huy vừa có vẻ chính đính của một hiệp khách, vừa có nét phong lưu của một lãng tử, nét phong lưu tự nhiên thuộc về khí chất từng khiến Lương được Annaud chọn đóng Người tình. Trong khi đó, Trương Mạn Ngọc khiến ta không khỏi ngỡ ngàng khi vào vai đào lẳng quá ngọt. Kim Tương Ngọc của cô gai góc, lão luyện giang hồ, đẹp mặn mà, và rất đỗi lẳng lơ – một Thị Hến có gai ở miền sa mạc. Cũng dễ hiểu thôi, bởi có thế mới trụ vững được ở Long Môn, mới có thể ung dung đùa bỡn cả đạo tặc lẫn quan binh. Nhưng nàng Mẫu dạ xoa ấy cũng chính là một cô gái hào hiệp với con mắt xanh của một kẻ đa tình.

Vượt lên cả hai người họ là mỹ nhân cổ trang trăm năm có một của Hong Kong: Lâm Thanh Hà. Đây không phải lần đầu mà cũng không phải lần cuối Lâm đóng vai phản xuyến (nữ cải nam trang), song có lẽ đây là vai diễn đẹp nhất của nàng, từ tạo hình đến diễn xuất, từ thần thái đến tính cách, khiến Châu Tấn trong Long Môn phi giáp cố gắng đến mấy cũng phải cam bái hạ phong. Từ Khắc vốn rất giỏi tạo hình nhân vật, và bộ trang phục nam nhi đen viền trắng với chiếc nón rộng vành đẫm chất giang hồ của Khưu Mạc Ngôn đã trở thành kinh điển, nhất là khi dưới vành nón còn thấp thoáng hàng lông mày liễu kiếm và đôi mắt sắc như dao của Lâm.

Ba vai diễn đã tốt, nhưng mối giao cảm giữa họ lại càng đặc biệt. Khưu và Châu hiển nhiên là “cố nhân”, có điều tình cảnh hung hiểm khiến họ chỉ có thể kín đáo nhìn nhau, giấu niềm vui vào nơi khóe mắt và thay lời nói bằng những cử chỉ âm thầm. Kim lăn lộn giang hồ, loại người nào cũng đã thấy qua, nên vừa gặp Châu lập tức dành biệt nhãn cho kẻ anh hùng. Nhưng đặc biệt nhất vẫn là sự kình địch giữa Khưu với Kim. Một người là hiệp nữ, một người là lão bản nương; bên trầm lặng kín đáo, bên sắc bén lả lơi. Họ vừa “tranh giành” Châu Hoài An, vừa có cảm tình với nhau, một thứ tình nửa “đồng tính” nửa “chị em” rất Từ Khắc – như Tào Vân và Bạch Nữu trong Đao mã đán, hay chính Lăng Nhạn Thu với Tố Huệ Dung trong Long Môn phi giáp vừa ra mắt. Nếu có một thứ đàn ông thích xem nhất thì đó hẳn sẽ là cảnh chị em lột quần áo của nhau – và Từ đã mang đến cho chúng ta điều đó.

Xem phim của Từ cũng giống như xem một màn tung hứng với đủ mọi thành tố và thể loại điện ảnh – căng thẳng đấy rồi lại lố lăng đấy, hài hước đấy rồi bi tráng đấy, chậm rãi đấy mà cũng dồn dập ngay đấy. Tất cả dường như cứ náo loạn hết cả lên, nhưng Tân Long Môn kỳ thực lại rất chặt chẽ và có lớp lang, vừa giàu tính giải trí vừa đầy xúc cảm. Kiến trúc của khách sạn – tầng này nhìn được tầng kia, phòng này nghe được phòng kia, có hầm kín, có bí đạo, luôn luôn có ánh sáng từ nơi khác lọt vào… càng làm tăng tính phức tạp, đa chiều, đa lớp của câu chuyện. Ở đây, tuyệt kỹ của Từ là một thứ vô chiêu, tổng hợp rất nhiều chiêu thức của các môn phái, diễn biến hối hả và quấn quýt lấy nhau trong một cảm quan điện ảnh rất riêng, rất dị, và rất Từ.

Từ luôn bị ám ảnh với sa mạc, bởi không gian khắc nghiệt ấy là cái phông nền tốt nhất cho nhân vật tung hoành. Từ Đao tới Tân Long Môn, từ Thất kiếm tới Phi giáp đều lấy bối cảnh sa mạc. Xét cho cùng, Từ chính là Sergio Leone của Hong Kong: Long Môn khách sạn há chẳng phải một saloon (quán rượu) miền Viễn Tây; bọn giang hồ thảo mãng thì có khác gì những gã cao bồi bắn chậm thì chết ở nước Mỹ thời nội chiến? Bao nhiêu đấu tranh, bao nhiêu sinh tử, bao nhiêu hài hước, bao nhiêu quan hoài đều được Từ “nhồi nhét” căng đầy và chật cứng trong một Long Môn nhỏ bé, dưới vòm trời đại mạc mênh mang. Và sa mạc qua ống kính Huỳnh Nhạc Thái đã đem lại những khuôn hình nghẹt thở đến nỗi Sergio nếu còn sống chắc cũng giơ ngón tay tán thưởng. Có những thời khắc không gian hùng vĩ như chực nuốt chửng con người, nhưng cũng có những giây phút nỗi lòng nhân gian như hòa lẫn trong nỗi sầu sa mạc. “Say khướt khêu đèn xem kiếm, mộng về kèn rúc liên thanh,” – đôi dòng đoản cú của Tân Khí Tật khắc trên cây địch của Khưu Mạc Ngôn chính là một nỗi sầu như thế.

Và tất cả kết thúc, trong một cái kết vừa xẻ thịt lóc xương vừa bi tráng mà chỉ Từ mới nghĩ ra nổi, cũng chỉ có Từ làm nổi thành phim. Bao dồn nén bùng nổ thành một trường sát sinh và huyết chiến, như một giọt mực thật đậm và đầy cảm thán, đặt dấu chấm hết cho bài thơ đại mạc của riêng ông.

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 4/2012

Wednesday, February 15, 2012

Thế giới của những người đàn ông (Anh)

Tinker Tailor Soldier Spy có rất nhiều điều để người ta chờ đợi. Đó là màn trình diễn “quốc tế” lớn đầu tiên của Tomas Alfredson, đạo diễn bộ phim vampire gây chấn động năm 2008 Let the right one in. Đó là sự tò mò không rõ cuốn tiểu thuyết cùng tên của John le Carré (BBC phải chuyển thể thành 7 tập phim truyền hình) được tái hiện ra sao chỉ trong 127 phút. Nhưng trên hết, đó là nỗi khắc khoải chờ đợi sự tái xuất của Gary Oldman trong vai diễn lớn đầu tiên kể từ Léon (dù gì đi nữa, Sirius của Harry Potter và Cảnh sát trưởng Gordon của Batman vẫn chỉ là vai phụ). Mười bảy năm, một thời gian quá dài cho người được Brad Pitt thần tượng, Anthony Hopkins xem là thiên tài, và Colin Firth xếp vào hàng ngũ những nam diễn viên xuất sắc nhất thời đại.

Những ai đã quen với thể loại trinh thám siêu công nghệ, hàng họ đầy mình như Bond, Bourne hay Mission Impossible chắc sẽ bật cười trước thế giới tình báo thô sơ và quê mùa trong Tinker. Thế giới của George Smiley (Oldman) và đồng nghiệp – Chiến tranh Lạnh những năm 70 – không có gì khác ngoài những văn phòng xấu xí và u ám, những tập tài liệu viết tay, và, ở trung tâm thế giới ấy, những người đàn ông. Quả vậy, suốt hai tiếng, MI6 chỉ xuất hiện hai người phụ nữ – một già, xấu, béo, đã về hưu + một cô thư ký văn phòng mà lời gợi ý đi chơi cuối tuần bị anh chàng Peter Guillam điển trai (Benedict Cumberbatch) lạnh lùng từ chối với lý do “phải đi thăm các bà cô”. Nếu như M, trên cương vị sếp sòng MI6, mang lại cho series James Bond nét lãng mạn của phụ nữ, thì bộ sậu của Cục Tình báo Anh dưới sự lãnh đạo của Control (cây đại thụ của điện ảnh sương mù, Sir John Hurt) chỉ có năm anh đực rựa, biến toa xe cách âm nơi họ hội họp thành sào huyệt của mưu mô, lạnh lùng, khắc nghiệt, và nam tính.

Sau vụ bại lộ khiến Jim Prideaux (Mark Strong) bị bắt tại Budapest, Control buộc phải từ chức và chết trong cô độc. Smiley được giao nhiệm vụ điều tra kẻ phản bội trong bốn nhân vật đầu não, được Control đặt bí danh là Tinker (Toby Jones), Tailor (Colin Firth), Soldier (Ciarán Hinds), và Poorman (David Dencik). Được sự trợ giúp của Peter và Ricki Tarr (Tom Hardy), một điệp viên bị gài bẫy vì tiết lộ sự tồn tại của kẻ phản bội, Smiley âm thầm xúc tiến cuộc điều tra.

Với nhiều bộ phim tương tự, danh tính của kẻ sát nhân/tên phản bội là điều cuốn hút khán giả đến giây phút cuối cùng. Tinker thì không thế. Những ai tinh ý sẽ có thể đoán ra điều đó ngay từ đầu qua danh sách diễn viên. Cái hấp dẫn ở Tinker là con đường đến câu trả lời, và đặc biệt là người dẫn chúng ta đến câu trả lời ấy.

Từ khi hóa thân thành tên sĩ quan DEA trong Léon, Oldman đã “chết” những vai phản diện quái dị, cuồng tín, và biến thái… Smiley là cơ hội lớn đầu tiên cho ông rũ bỏ vầng hào quang cũ (và rất có thể sẽ khoác lên một vầng hào quang mới nếu tới đây tượng vàng Oscar được trao cho vai diễn của Gary). Đây là một nhân vật, theo lời chính John le Carré, sở hữu “sự quỷ quyệt của Satan và lương tâm trinh nữ”. Và Smiley của Gary đúng là như thế, chính là như thế. Lạnh lùng, âm trầm, quyết đoán, lão mưu thâm toán, mừng giận không lộ ra ngoài mặt, nhưng không vì thế mà mất đi cái tình của con người. Với đồng nghiệp, Smiley chân thành; với địch thủ – Karla của KGB, ông tôn trọng; với thuộc cấp như Ricki và Peter, là một tình cảm bảo bọc gần như cha con. Nhưng khi cần tàn nhẫn, cần quyết tuyệt, ông sẵn sàng hành động, không nhíu mày, không biến sắc. Và, như bao người khác, ở Smiley cũng có điểm yếu trong tình cảm, mà Karla – đại địch của ông từ KGB, đã phát hiện ra và lợi dụng. Ngần ấy sắc thái, ngần ấy khía cạnh ở Smiley đều được Gary thể hiện ung dung và trọn vẹn qua từng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, ngữ điệu, phong thái và khí độ của một tay điệp viên cáo già.

Nhưng, Tinker không chỉ có mình Gary. Nói không ngoa, đây là màn phô trương sức mạnh hùng hậu của dàn diễn viên nam Anh quốc. Bốn thế hệ cùng góp mặt, và ai cũng đáng mặt anh hào – từ Hurt (72) tới Hinds (59), từ Firth (51) và Strong (48) đến Cumberbatch (35) và Hardy (34).  Firth vẫn lịch lãm như thường lệ trong khi Hardy đầy chất hài hước trong Inception lại diễn rất ra một Ricki Tarr bi kịch và rất con người. Strong khiến khán giả bất ngờ khi lột xác thành “anh giáo làng” Jim Prideaux, khổ sở để vượt qua cú sốc ở Budapest. Và không thể không kể tới Cumberbatch trong vai trợ thủ của Smiley, với ánh mắt xanh biếc và vẻ lãnh đạm rất Anh, đầy hứa hẹn trở thành một Alan Rickman mới.

Những gì đã đem lại thành công cho Let the right one in, Tomas Alfredson tiếp tục mang theo sang Tinker. Tomas dẫn dắt câu chuyện một cách rất điềm tĩnh, từ tốn, và đặc biệt tiết chế, với những khoảng lặng được tính toán kỹ lưỡng, để cảm giác khắc khoải và không khí bế tắc của mỗi cá nhân và của cả một thời đại ngấm vào tâm trí người xem. Đó là sự bế tắc của chính Smiley trong mối quan hệ vợ chồng; sự bế tắc của Prideaux khi mãi mắc kẹt trong hồi ức về những tháng ngày khủng khiếp ở Bulgaria; sự bế tắc của Ricki khi bất lực nhìn người đàn bà mình yêu biến mất một cách lặng lẽ; và sự bế tắc của một thế hệ điệp viên không biết cuộc chiến thầm lặng và dai dẳng hơn hai thập niên của họ rồi sẽ đi về đâu. Diễn ra không nhanh, nhưng câu chuyện của Tinker lại khiến khán giả không hề thấy chậm. Bởi nó hút người xem vào không khí đặc quánh của bộ phim, cái cách mà Let the right one in từng làm ba năm trước. Để giải mã được câu chuyện của Tinker, người xem phải tập trung cao độ và không thể bỏ sót một khuôn hình nào, vì trong cái chậm rãi này lại luôn dồn dập những dấu vết và chi tiết.

Không chỉ chậm rãi một cách dồn dập, Tinker còn chậm rãi một cách duyên dáng. Những cú máy trung bình hay tele, ống kính chuyển động từ từ và rê êm ru như nước, vừa giữ khoảng cách với nhân vật, vừa “mời gọi” người xem dấn thân vào câu chuyện, vừa phản ánh một góc nhìn tươi mới của đạo diễn người Thụy Điển. Sự tương phản giữa chất mềm mại và mượt mà của khuôn hình và nét kích thích đầy căng thẳng tích tụ trong khuôn hình ấy đã trở thành phong cách đặc hữu của Tomas Alfredson, được phóng đại qua ống kính của Hoyte van Hoytema trên vai trò quay phim chính.

Dấu ấn của Hoyte không chỉ dừng ở đó. Tinker xét cho cùng là period movie, kể về một thời đại đã qua. Những tông màu lợt lạt, những thước phim nổi hạt (grainy), những bộ quần áo được chăm chút kỹ lưỡng, cùng tiếng đàn dây dìu dặt đến thê lương của Alberto Iglesias đã phả vào khán giả một luồng gió ảm đạm mang hơi hướng rõ rệt thập niên 70, khi Chiến tranh Lạnh ở thời kỳ lắng dịu, nhưng sự thù địch giữa hai phe vẫn dữ dội và âm ỉ. Một phim như Tinker đòi hỏi chất nhạc dày dặn, có chiều sâu phức cảm, và người cộng sự quen thuộc của Pedro Almodovar đã chứng minh Tomas không hề sai lầm khi chọn ông.

Điểm cuối cùng song không thể không nhắc đến ở Tinker, là những ngón hài tỉnh rụi đặc sệt chất Anh, từ cảnh đôi chim cu hôn nhau tíu tít tại nhà nữ đồng nghiệp của Smiley, tới chuyện cả MI6 nói tiếng Nga nhem nhẻm trong lễ Giáng sinh với sự chủ trì của Santa Lenin. Ở nơi tưởng như không có chỗ cho tiếng cười, những tình tiết hài lại xuất hiện, thản nhiên mà không gượng ép, điểm nét duyên dáng Ănglê cho một bộ phim đã gần như hoàn hảo.

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 3/2012