Thursday, May 17, 2012

Một người Mỹ nữa ở Paris

Mấy năm gần đây, Woody Allen, chàng lãng tử già của Hollywood dường như đã chuyển nghề làm hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư, quảng bá không công cho những hòn ngọc của Châu Âu: đầu tiên là Vicky Cristina Barcelona (2008), rồi tới Midnight in Paris (2011), và sắp tới là To Rome with Love (2012). Có lẽ nào ông đã chán nước Mỹ mà ông từng đã rất yêu, và đã tìm được cho mình một (hoặc nhiều) tình yêu mới ở lục địa già?

Xem Midnight in Paris, ta mới thấy rằng, không hoàn toàn như vậy.

Woody vốn là một người “lịch duyệt” (các bạn Tây gọi là sophisticated), am hiểu văn chương (ông viết văn), âm nhạc (ông chơi clarinet), hội họa… Thế nên, trước khi là một đạo diễn, ông là một tâm hồn đồng điệu với những kẻ say jazz và yêu Jazz Age. Mà những kẻ như thế, ai chẳng ước ao được nghe Cole Porter chơi đàn, được uống café au lait với Hemingway ở Des Amateurs, được chén chú chén anh với Fitzgerald ở Dingo Bar. Hơn ai hết, Woody biết rõ và thậm chí là chia sẻ giấc mơ thầm kín ấy với không ít người trong số chúng ta. Và hơn ai hết, ông có trong tay thứ công cụ diệu kỳ có thể biến giấc mơ ấy thành hiện thực.

Xem Midnight, có cảm giác luôn có Woody cười khúc khích sau mỗi khuôn hình: các vị hình dung Paris thế này chứ gì. Thì đây, nó chính là thế đấy, nhìn đi, nghe đi, và mê mẩn đi. Lão già 74 không từ một chiêu gì để thuốc chết người xem với một Paris tráng lệ “như trong sách”. Và cái công thức về Paris ấy, cũng như món gâteaux au chocolat, luôn làm đám hảo ngọt chúng ta ăn lấy ăn để với một nụ cười tội lỗi. Câu chuyện Paris của Woody, vì thế, rất nhẹ nhàng, giản đơn, bay bổng, như một món tráng miệng thơm mùi nước Pháp của ngày xưa.

Midnight mở đầu bằng những khuôn hình đẹp như bưu thiếp của thủ đô nước Pháp những năm 2000. Những giữa không gian này, tiếng trumpet ngọt lịm của Sidney Bechet lại vẫy gọi một thời gian khác: thập niên 1920. Đây chính là những gì mà Gil (Owen Wilson), một phiên bản của Woody hồi trẻ, đã gặp ở Paris. Khác với Cinderella, cuộc phiêu lưu của Gil không kết thúc mà bắt đầu lúc nửa đêm. Nơi đó, Gil gặp tất cả những tên tuổi lẫy lừng của Paris thuở ấy: Gertrude Stein, Salvador Dalí, Pablo Picasso, Luis Buñuel… những cái tên khiến gã biên kịch thất chí từ Hollywood lên cơn cực khoái vì hâm mộ. Và không phải nàng Adriana (Marion Cotillard) diễm tuyệt, nàng thơ của Pablo Picasso, mà chính Paris những năm 20, với cuộc tao ngộ hoang đường kia, đã cướp Gil khỏi tay vị hôn thê Inez (Rachel McAdams).

Nhìn bề ngoài, dường như gã trai Mỹ đã bị Paris chinh phục. Nhưng Gil không phải là người Mỹ đầu tiên ở Paris. Trước anh, đã có Jerry Mulligan[1], và Jerry mới là người chinh phục, cũng như những Louis Amstrong và Miles Davis từng làm cả Paris phải điên đảo thần hồn. Midnight kỳ thực là niềm kiêu hãnh ngấm ngầm của Woody Aleen về văn hóa Mỹ. Vì những người mà Gil ngưỡng mộ, những người định hình nên một phố thị phồn hoa bên dòng sông Seine, lại phần nhiều đến từ Tân Thế giới. Họ là George và Ira Gershwin, là Cole Porter, là Ernest Hemingway, là F. Scott và Zelda Fitzgerald. Và những người khác cũng là những kẻ lãng du, những khách bô-hê-miên mà cuộc tao loạn lưu ly Đệ nhất Thế chiến đã cuốn họ trôi về đất Ba-lê. Thiếu họ, Paris không còn là Paris hội hè miên man nữa. Vắng họ, Paris mất đi một phần không nhỏ sự quyến rũ thường ngày. Đó là lý do Paris của ngày, của hiện tại, của Carla Bruni, không quyến rũ bằng Paris của đêm.

Nhưng vì đêm rồi sẽ qua và mộng rồi sẽ hết, nên Gil không thể không trở về với Paris của ban ngày, nơi chàng tiếp bước Jerry, quyến rũ một nàng thiếu nữ Paris. Để từ nay, chàng có thể kiêu hãnh mà rằng: “Ta đến, ta thấy, và ta chinh phục!”

Bài đăng trên Đẹp số tháng 6/2012

Tuesday, May 15, 2012

The Godfather

Bốn mươi năm sau ngày ra đời, Godfather vẫn được xem như một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại; vẫn đứng thứ hai trong danh sách 100 phim xuất sắc nhất của Viện phim Mỹ; vẫn đứng thứ hai trong Top 250 phim cao điểm nhất của IDMB. Và tiếp tục được không ít đàn ông gọi tên, khi được hỏi về bộ phim mình yêu thích nhất.

Rốt cục thì vì sao, Godfather lại quyến rũ cánh đàn ông đến thế?

Điều đầu tiên và trước hết: thể loại! Gangster, và phim gangster, là một món đặc sản Hoa Kỳ. Phim gangster nói chung, với súng ống, máu lửa, và tình huynh đệ, luôn là một thứ adrenaline, một liều thuốc rất dễ gây nghiện đối với đàn ông. Mà Godfather thì lại là Bố già của thể loại gangster, nên chuyện đàn ông mê Godfather không có gì là khó hiểu. Mê đến như Cổ Long, viết cả một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp Lưu tinh, hồ điệp, kiếm – lấy nguyên mẫu nhân vật chính từ Don Corleone.

Điều thứ hai, Godfather là một (đúng ra là hai) câu chuyện chỉ dành riêng cho đàn ông. Câu chuyện thứ nhất là về một chàng trai, bằng trí tuệ, bằng dũng khí, bằng sự tàn nhẫn, vươn lên ngôi vị ông trùm của thế giới mafia. Cái giấc mơ vùng vẫy giang hồ ấy hẳn đã từng đeo đuổi không ít gã trai suốt một thời niên thiếu. Câu chuyện thứ hai, thật hơn, đời hơn, và gần gũi hơn, là về tình phụ tử. Về một đứa con ghé vai gánh vác cơ nghiệp cả đời của người cha khi gia đình gặp cảnh hiểm nghèo. Nhiều người đàn ông chưa chắc đã nhận ra điều đó, nhưng tự đáy lòng mình họ lại đồng cảm với nó một cách rất bản năng.

Điều thứ ba, và có lẽ cũng là cốt lõi: Godfather có một tuyến nhân vật nam hết sức đặc biệt, nếu không muốn nói là hùng hậu. Từng người đều là điển hình cho một mẫu đàn ông. Trong số họ, có người gần như hoàn mỹ như Michael, và có những người khiếm khuyết như Santino hoặc Johnny (Fontane), nhưng không ai có thể phủ nhận rằng họ rất rất điển hình.

Hai nhân vật chính, Vito và Michael Corleone, chia sẻ một phẩm chất chung: họ là những nhà lãnh đạo bẩm sinh. Óc khôn ngoan, lòng quyết đoán, và sự nhẫn tâm cho họ đứng trên người khác; và khi trời sập xuống, đã có họ nghiêng vai chống đỡ. Nhưng cả hai, xét cho cùng, đều là những người hùng bất đắc dĩ. Vito, nếu không bị Don Fanucci dồn đến đường cùng, hẳn đã an phận là một anh bán rau quả. Michael, nếu không phải chứng kiến cảnh bố mình thập tử nhất sinh, hẳn sẽ không bao giờ dính dáng đến sự vụ của nhà Corleone. Chỉ khi bước vào hiểm cảnh, những tố chất siêu việt ấy mới trỗi dậy trong họ.

Nhưng giữa Vito và Michael không phải không có khác biệt. Vito là dân Ý gộc, đại diện cho truyền thống; còn Michael, sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ, đại diện cho sự giao thoa của hai nền văn hóa. Mặc dù vậy, nhưng Michael lại thoải mái như cá gặp nước khi trở về nguồn cội. Khí chất của anh không chỉ bộc lộ khi hạ sát kẻ thù hay khi điều hành gia tộc, mà còn được thể hiện (trong những tháng ngày lưu lại đất Sicily) theo một cách khiến cánh đàn ông không khỏi thở dài ngưỡng mộ. Cái cách Michael chinh phục Apollonia và gia đình cô, nó vừa tôn nghiêm, vừa hùng hồn, vừa câm lặng. Cái cách Michael đối diện với ông bố vợ tương lai, với các bà cô bà bác bà dì lẽo đẽo theo chân đôi tình nhân trẻ, nó vừa tự tin, vừa điềm tĩnh, vừa ngạo mạn. Người viết tin rằng, khi xem tới đoạn này, nhiều anh con giai chỉ ao ước rằng mình có một nửa cái khí phách của Michael mỗi lần ló mặt đến nhà nhạc phụ tương lai. Rõ ràng, Michael là hiện thân của sự mẫu mực trong mọi vai trò mà anh gánh vác: là người lính, anh được phong anh hùng; là đứa con, anh kế thừa xuất sắc cha mình; là người chồng, anh có sự tôn sùng tuyệt đối từ Apollonia; là ông trùm, anh được đàn em kính nể và kẻ thù sợ hãi. Chưa hết, anh (trong ngoại hình của Al Pacino) lại đẹp trai lồng lộng, và ăn mặc cũng cực kỳ khí phái nam nhi (hay tất cả đàn ông ngày đó đều ăn mặc như thế, khác hẳn phong cách metrosexual nhan nhản thời nay?) Đời một thằng đàn ông, thử hỏi còn mong gì hơn thế?

Nếu Vito và Michael là một cặp đôi của sự tương đồng thì Santino Corleone và Tom Hagen lại là một cặp đôi của sự đối lập – từ địa vị đến ngoại hình và tính cách. Sonny là con đẻ, Tom là con nuôi; Tom người Mỹ tóc vàng, Sonny dân Ý tóc đen; Tom là văn quan, Sonny là võ tướng; Tom lạnh lùng trầm tĩnh bao nhiêu thì Sonny máu nóng, bốc đồng bấy nhiêu. Cái tỉnh táo đầy lý trí của Tom và cái hoang dại rất bản năng của Sonny đều là hai mặt của người đàn ông, và chúng ta có thể không thấy mình rõ lắm ở con-người-siêu-nhiên Michael, nhưng sẽ thấy mình ít nhiều ở một hoặc cả hai nhân vật này.

Một nhân vật khác cũng không kém phần đặc biệt của Godfather, chính là Johnny Fontane. Trở lại với câu hỏi “đàn ông còn mong gì hơn thế”: có lẽ không ít người, nếu không mong được như Michael, sẽ mong được như Johnny Fontane. Johnny, mà giọng ca êm như nước và mềm như lụa khi ca bài I have but one heart đã thuốc chết bao trái tim thiếu nữ trong đám cưới của Connie lúc đầu phim. Johnny, mà nguyên mẫu, theo giang hồ đồn đại, chính là Frank Sinatra lẫy lừng một thuở, thần tượng của vô vàn cô bé tuổi ô mai. Godfather phim không dành cho Johnny nhiều đất diễn, nhưng Godfather truyện lại khắc họa rất kỹ chân dung gã kép đào hoa, mà đoạn anh Johnny cua bé Sharon, dưới ngòi bút Mario Puzo và qua bản dịch Ngọc Thứ Lang, xứng đáng gọi là tuyệt tác về nghệ thuật à ơi, và cả về đạo hạnh của một gã lãng tử phong tình.

Puzo đã vẽ nên những cá tính lớn, và điều còn lại mà Coppola phải làm là chọn mặt gửi vàng cho từng vai diễn. Cả Corleone bố và Corleone con đều đáng gọi là những con phượng giữa bầy gà, và Coppola không có giải pháp nào khác ngoài việc đi tìm chim phượng để vào vai chim phượng. Con phượng già tên là Marlon Brando, cây đại thụ, kẻ mở đường, biểu tượng về sức hút nam tính của điện ảnh. Chọn người đàn ông đàn ông nhất Hollywood vào vai Don Corleone, Coppola không sai lầm và không thể sai lầm. Cái giỏi của ông là đôi mắt xanh đã nhìn ra hình hài chú phượng non đang trổ mã trong Al Pacino (Michael chỉ là vai chính thứ hai trong bộ phim thứ ba của chàng diễn viên vô danh). Và nếu tính cả phần hai, với De Niro trong vai Vito thời trẻ, thì có thể nói Coppola đã được trời phú cho một bộ ba thần thánh để biến câu chuyện truyền kỳ của nhà Corleone thành bất tử.

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 6/2012

Tuesday, April 17, 2012

Một con người. Một ngày dài. Một cuộc đời.

Có nhiều, nếu không muốn nói là rất nhiều, cách để làm một bộ phim hay. Lẽ dĩ nhiên, không có cách nào là dễ cả. Nhưng có một số cách có lẽ là khó hơn những cách khác. Quá duy mỹ thì dễ rơi vào hào nhoáng mà sáo rỗng. Quá duy cảm thì dễ mất đi sự chặt chẽ cần thiết cho một tác phẩm điện ảnh (bởi xét cho cùng, điện ảnh là một môn nghệ thuật đầy kỹ thuật). Người có thể đi thăng bằng trên hai sợi dây ấy không nhiều. Cùng lúc đi trên cả hai, lại càng ít nữa. Tom Ford, nhà thiết kế thời trang lừng danh, ở lần đầu lấn sân điện ảnh với bộ phim A single man, hẳn đã làm rất nhiều người ngạc nhiên khi ung dung đi về trên cả hai lằn ranh mong manh ấy.

A single man của Tom Ford là một bộ phim hoàn mỹ trong sự không hoàn mỹ của chính nó. Có lẽ không ai tán tụng nó là tuyệt phẩm, là kiệt tác bất hủ của mọi thời đại. Và chắc chắn là các nhà phê bình đã (và sẽ còn) nhìn ra những khiếm khuyết. Nhưng bất chấp tất cả, hẳn là không ít người vẫn phải thở dài trước vẻ đẹp mỹ lệ, đầy nhục cảm, và gần như không tì vết suốt chín mươi chín phút của bộ phim.

Dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của Christopher Isherwood, A single man là câu chuyện về một ngày – chính xác là ngày 30 tháng 11 năm 1962, một tháng sau khủng hoảng tên lửa ở Cuba – của George Falconer (Colin Firth), một giáo sư văn học người Anh sống ở Los Angeles. Tám tháng sau khi người bạn đời 16 năm của ông qua đời, Falconer thức dậy vào buổi sớm từ cơn ác mộng về cái chết của Jim. Khởi đầu ngày mới với tâm niệm đây sẽ là ngày cuối, ông chuẩn bị cho cuộc chết của mình một cách không thể kỹ lưỡng hơn và phong cách hơn. Chỉ có điều, ông không ngờ rằng những gặp gỡ và tao ngộ với cô bạn lâu năm Charlotte (Julianne Moore), cậu sinh viên Kenny (Nicholas Hoult) và gã trai bao Tây Ban Nha Carlos đã biến hôm ấy thành một ngày đáng nhớ và kết thúc nó với một cách không thể đẹp hơn, đúng như Dinah Washington thời ấy thường hay hát: What a difference a day make! Twenty four little hours…

A single man hội đủ các nhân tố cần thiết để trở thành bi kịch. Là người đồng tính, Falconer vốn dĩ đã rất cô đơn - ai từng xem Milk thì chắc vẫn chưa quên vào thập niên 70 người đồng tính còn bị kỳ thị ghê gớm ra sao tại Mỹ, và càng cô đơn hơn khi mất đi người bạn đời đích thực. Mỗi nhân vật phụ cũng đều bi kịch theo cách của riêng mình: Charlotte thất bại trong hôn nhân, Kenny hoang mang giữa cuộc đời, và Carlos tan vỡ giấc mơ Hollywood. Tất cả sống khắc khoải trong bóng mây thảm họa hạt nhân bao trùm nước Mỹ ở thời điểm ấy. Tom Ford không né tránh điều đó, mà ngược lại, tiếp cận nó một cách trực diện, song với một góc nhìn đầy mỹ cảm và phong cách (stylistic). Và đi cùng với nó là một nỗi niềm đồng cảm sâu xa – bản thân Tom Ford cũng là một người đồng tính. A single man, bởi thế, rất buồn, nhưng cũng rất đẹp. Đẹp tới mức làm khán giả sững sờ, gần như quên mất đây là bi kịch. Đẹp tới mức chỉ có thể diễn tả bằng một từ: kinh diễm.

Câu chuyện của A single man giản dị. Thách thức với Tom Ford vì thế không phải là sẽ kể gì, mà là kể nó ra sao? Có những người làm biên kịch, quay phim rất giỏi, nhưng lại thất bại khi chuyển sang đạo diễn. Vậy thì tại sao, một nhà thiết kế thời trang, kinh nghiệm điện ảnh rất ít ỏi, lại thành công ngay ở bộ phim đầu tay? Câu trả lời có lẽ nằm trong vùng đất chồng lấn giữa thời trang và điện ảnh. Cả hai, xét đến tận cùng, đều là những môn nghệ thuật thị giác. Tom Ford có thể không hiểu biết rành rẽ về điện ảnh như dân trong nghề. Nhưng anh lại sở hữu một thứ hiếm người có được: một bản năng mỹ cảm thiên phú, một nhãn quan về phong cách ưu việt, điều đã giúp anh vực dậy Gucci từ chỗ suy tàn và biến nó thành một thương hiệu hùng mạnh của thời trang thế giới. Mỹ cảm của Tom, cộng với diễn xuất của Colin Firth và nhạc của Korzeniowski (soạn nhạc cho Metropolis) đã làm nên một A single man lung linh trên mỗi một khuôn hình.

Nét độc đáo nhất ở A single man là cách xử lý màu sắc của Tom. Những tông màu nóng và lạnh được sử dụng đan xen ở nhiều cấp độ tương phản khác nhau nhằm khắc họa sự đa dạng về cảm xúc của nhân vật. Mỗi khi Falconer u uất, màu phim trầm xuống và bợt đi. Và trong những phút hưng phấn hiếm hoi khi ông tiếp xúc với nguồn sinh khí dạt dào hơn từ những con người khác, khuôn hình bừng sáng với những gam màu nóng. Cùng một đoạn thoại, những khi ống kính hướng vào Falconer, tông màu chìm xuống. Chuyển sang Kenny, tất cả lại rực lên với vẻ tươi tắn của chàng trai 20 tuổi. Mỗi khi Falconer hoài niệm về Jim, ký ức lại lung linh trong sự tương phản sống động với cái ảm đạm của hiện thực. Sự tương phản ấy còn dữ dội hơn trong đoạn gặp gỡ giữa Falconer và Carlos. Đó vừa là sự tương phản của nhân vật – một kiệt quệ khát khao, một căng đầy nhựa sống; vừa là sự tương phản của ngoại cảnh – tà huy đỏ rực đổ bóng lên tấm poster khổ lớn màu xanh lợt, nơi đôi mắt kinh hoàng của Janet Leigh ở Psycho đang nhìn sâu vào lòng khán giả trong một nỗ lực tuyệt vọng để tìm lối thoát cho mình.

Sự chắc chắn tuyệt đối về sinh mệnh của mình (sẽ kết thúc khi ngày hết) đã khiến mọi giác quan của Falconer như căng ra và nhạy bén hơn. Khi cận kề sự chết nhất cũng là lúc ông mẫn cảm nhất với vẻ đẹp đầy mộng mị của sự sống, cho dù đó là mồ hôi trên bờ ngực trần của một tay vận động viên tennis, màu son môi và mùi nước hoa trên tóc mai cô thư ký, hay đôi chân gày gò nhưng vẫn chứa chan nhựa sống của cô bé Jennifer. Tom Ford khắc họa điều đó bằng những cú máy macro –cách giải quyết có thể là hơi nghiệp dư đối với một số người, nhưng lại phản ánh rõ nét nhất lối tiếp cận trực diện thường thấy ở anh. Sự thẳng thắn đến bạo liệt ấy của Tom đã nhận được một sự bổ sung ăn ý qua diễn xuất tiết chế và thâm trầm từng làm Colin Firth nổi danh với Kiêu hãnh và Định kiến. Với nét mặt Ănglê biểu cảm mãnh liệt trong mỗi cái nhíu mày, Firth diễn rất đạt nỗi cô đơn và niềm tuyệt vọng luôn bị kìm nén dưới vẻ ngoài lịch lãm của Falconer. Cũng tuyệt vọng như bạn mình và còn thất bại thê thảm trong hôn nhân, nhưng Charlotte của Julianne Moore lại mang đến một hơi thở hồn nhiên và vô ưu. Chính cô, cùng với Kenny, đã giúp Falconer tái sinh. Nếu như cô níu ông lại bằng trách nhiệm của tình bằng hữu, thì Kenny, bằng ánh mắt và nụ cười rạng rỡ sắc thanh xuân, bằng niềm chân thành tuổi trẻ, đã giúp ông vượt qua quá khứ, vượt qua Jim, để rồi trả lại cho ông niềm yêu cuộc sống, cho một ngày của ông thực sự là trọn vẹn.

Điểm mạnh của Tom, trong chừng mực nào đó, cũng chính là điểm yếu của anh. Bản năng của một art-director lâu năm trong ngành thời trang có lẽ đã cuốn Ford đi trong cách anh bài trí và bố cục bộ phim của mình. Mỗi một khung hình của A single man đều có thể trở thành một tấm print-ad hoàn hảo. Cách Falconer xếp đặt tư trang của mình để chuẩn bị tự tử không còn là sự chỉn chu của một giáo sư đại học, mà mang đậm dấu ấn của một stylist. Và đoạn hồi ức đen trắng của Falconer về Jim, nếu như thêm vào một chai Yves Saint Laurent M7 thì hẳn là không khác gì một bức hình quảng cáo nước hoa for men chính hiệu. Với một nhà phê bình khắt khe, đó sẽ là những điểm trừ. Nhưng đồng thời, chất stylistic của Tom cũng góp phần xóa nhòa đi ranh giới giữa video quảng cáo và điện ảnh, và đó cũng có thể tính là điểm cộng cho anh.

Có những giây phút ở A single man, Tom làm ta nhớ đến hai bậc thầy khác về mỹ cảm – Almodovar và Vương Gia Vệ. Nếu bức poster khổng lồ làm khán giả liên tưởng đến All about my mother thì những thanh âm se sắt rất Umebayashi sau mỗi khuôn hình quay chậm lại gợi nhớ về In the mood for love. Nhưng, có lẽ, với Tom, người hiểu rất rõ sự khác biệt giữa sáng tạo và sao chép, sự tương đồng ấy là một cách không thể đẹp hơn để tôn vinh những con người cùng chia sẻ với anh niềm đam mê dành cho mỹ cảm.

Trong một thế giới nơi lợi nhuận thống trị điện ảnh, những con người như Pedro Almodovar và Vương Gia Vệ ngày càng ít đi. Bởi thế cho nên, chúng ta có mọi lý do để vui mừng, khi có thêm một người gia nhập hàng ngũ ấy. Tháng 6/2010 vừa qua, Tom tiết lộ anh đang theo đuổi một dự án điện ảnh thứ hai. Và với những gì anh đem đến ở A single man, chúng ta có mọi lý do để cùng chờ đợi.