Saturday, June 9, 2012

Hẹn nhau ngày đó (ở St. Louis)

Ngày nay, phim gia đình vẫn chiếm một tỉ lệ không nhỏ ở các rạp chiếu phim. Nhưng số phim thực sự hay thì lại không nhiều, và, đôi khi, để tìm thấy một bộ phim như thế, ta phải ngược dòng thời gian rất xa để tìm về với những viên ngọc của quá khứ. Một trong những viên ngọc ấy là bộ phim musical của hãng MGM, Meet me in St. Louis (1944).

Năm năm sau thành công rực rỡ của Wizard of Oz, cô bé Dorothy (Judy Garland) nay đã lớn và hóa thân vào vai Esther Smith, một thiếu nữ tuổi vừa đôi tám ngụ ở 5153 Kensington Avenue, St. Louis – một thành phố lớn ven bờ Mississipi. Cô gái phải lòng chàng hàng xóm điển trai John Truett (Tom Drake) và tìm mọi cách để làm quen với John. Khi tình cảm giữa họ vừa chớm nở thì ông Smith cha cô lại có cơ hội thăng chức và quyết định cả gia đình sẽ dọn đến sống ở New York vào cuối năm, một cái tin rất đột ngột với nhà Smith, bởi ai nấy đều háo hức chờ đợi Hội chợ Thế giới 1904 sẽ được tổ chức vào cuối năm ở St. Louis. Trong bối cảnh ấy, Đêm Giáng sinh là sự kiện lớn cuối cùng của nhà Smith ở St. Louis, và cũng là cơ hội cuối cùng để John bày tỏ tình yêu của mình với Esther…

Meet me in St. Louis là một câu chuyện giản dị, nếu không muốn nói là kinh điển Hollywood, làm cho ta nhớ đến một bộ phim tương tự nhưng có lẽ nổi tiếng hơn nhiều là The Sound of Music. Judy Garland với đôi mắt to tròn đã mang giọng hát của mình vào bộ phim và lần đầu tiên đem đến với khán giả ba bài hát ngày nay đã trở thành một phần của The Great American Songbook – đó là The Boy Next Door, Trolley SongHave Yourself a Merry Little Christmas. Cảnh Esther mặc chiếc váy sọc, ngồi bên cửa sổ dưới vòm hoa và than thở: The moment I saw him smile, I knew he was just my style, sau hơn 60 năm có lẽ vẫn sẽ làm nhiều người xao xuyến, nhất là những thiếu nữ lần đầu biết tới hương vị của tình yêu. Và có lẽ cũng khó ai có thể quên được trường đoạn Esther đi xe điện và cất tiếng hát ngọt ngào: ‘Thump, thump, thump’ went my heartstrings. When he smiled I could feel the car shake. Sánh vai cùng Judy, Tom Drake rất tự nhiên hóa thân thành anh hàng xóm dễ thương, và mỗi lần anh xuất hiện, giữa John và Esther lại toát ra một vẻ bỡ ngỡ mà hồn nhiên rất đỗi tình đầu khiến ta không khỏi mỉm cười.

Sau Judy, có lẽ cô nhóc ‘Tootie’ Smith (Margaret O’Brien) là người đem lại nhiều tiếng cười nhất cho khán giả. Tootie là một bà cụ non chính hiệu với sở thích kỳ quái là làm lễ tang cho các em búp bê bị ốm; và mỗi trò nghịch ngợm vừa kỳ cục vừa ngộ nghĩnh của cô bé luôn là nguyên nhân gây rắc rối cho nhà Smith, nhưng chính nó cũng đã mang lại cho Margaret giải Oscar dành cho thiếu nhi năm 1944.

Nhưng nhà Smith không chỉ có Esther và Tootie. Đây là một đại gia đình gồm có Đại tá Darly (ông nội Esther), ông bà Smith, bốn chị em Rose, Alonzo Jr., Esther, Tootie và bác Katie giúp việc. Bên cạnh mối tình giữa Esther với John, cuộc sống của nhà Smith chính là những giây phút đẹp nhất và đầm ấm nhất của bộ phim. Mỗi chi tiết, dù lớn hay nhỏ, đều vẽ nên trước mắt khán giả một gia đình hạnh phúc và mẫu mực một cách đáng mơ ước. Đó là khi bà Smith và bác giúp việc ganh đua về công thức của món ketchup tuyệt hảo, là cảnh cả gia đình háo hức ngồi ở bàn ăn chờ đợi cuộc gọi đường dài từ ý trung nhân của cô chị cả Rose, là phản ứng giận dỗi của mọi người trong nhà, từ cô bé Tootie đến ông nội Darly, khi ông Smith thông báo sau Lễ Giáng sinh cả nhà sẽ chuyển đến New York.

Một vẻ đẹp nữa không thể không nhắc đến là từ cách nói chuyện cho đến lối ứng xử của mỗi người trong gia đình Smith, đều toát ra một vẻ lịch lãm rất đặc trưng của miền Nam nước Mỹ, vẻ lịch lãm từng mê hoặc người xem trong Gone with the Wind hay To Kill the Mocking Bird. Vẻ đẹp ấy càng trở nên duy mỹ hơn dưới gam màu rực rỡ đến phi thực của những thước phim Technicolor, khiến mỗi khi hoài cổ, người ta lại hẹn nhau tìm về với St. Louis, Louis…

Thursday, May 17, 2012

Một người Mỹ nữa ở Paris

Mấy năm gần đây, Woody Allen, chàng lãng tử già của Hollywood dường như đã chuyển nghề làm hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư, quảng bá không công cho những hòn ngọc của Châu Âu: đầu tiên là Vicky Cristina Barcelona (2008), rồi tới Midnight in Paris (2011), và sắp tới là To Rome with Love (2012). Có lẽ nào ông đã chán nước Mỹ mà ông từng đã rất yêu, và đã tìm được cho mình một (hoặc nhiều) tình yêu mới ở lục địa già?

Xem Midnight in Paris, ta mới thấy rằng, không hoàn toàn như vậy.

Woody vốn là một người “lịch duyệt” (các bạn Tây gọi là sophisticated), am hiểu văn chương (ông viết văn), âm nhạc (ông chơi clarinet), hội họa… Thế nên, trước khi là một đạo diễn, ông là một tâm hồn đồng điệu với những kẻ say jazz và yêu Jazz Age. Mà những kẻ như thế, ai chẳng ước ao được nghe Cole Porter chơi đàn, được uống café au lait với Hemingway ở Des Amateurs, được chén chú chén anh với Fitzgerald ở Dingo Bar. Hơn ai hết, Woody biết rõ và thậm chí là chia sẻ giấc mơ thầm kín ấy với không ít người trong số chúng ta. Và hơn ai hết, ông có trong tay thứ công cụ diệu kỳ có thể biến giấc mơ ấy thành hiện thực.

Xem Midnight, có cảm giác luôn có Woody cười khúc khích sau mỗi khuôn hình: các vị hình dung Paris thế này chứ gì. Thì đây, nó chính là thế đấy, nhìn đi, nghe đi, và mê mẩn đi. Lão già 74 không từ một chiêu gì để thuốc chết người xem với một Paris tráng lệ “như trong sách”. Và cái công thức về Paris ấy, cũng như món gâteaux au chocolat, luôn làm đám hảo ngọt chúng ta ăn lấy ăn để với một nụ cười tội lỗi. Câu chuyện Paris của Woody, vì thế, rất nhẹ nhàng, giản đơn, bay bổng, như một món tráng miệng thơm mùi nước Pháp của ngày xưa.

Midnight mở đầu bằng những khuôn hình đẹp như bưu thiếp của thủ đô nước Pháp những năm 2000. Những giữa không gian này, tiếng trumpet ngọt lịm của Sidney Bechet lại vẫy gọi một thời gian khác: thập niên 1920. Đây chính là những gì mà Gil (Owen Wilson), một phiên bản của Woody hồi trẻ, đã gặp ở Paris. Khác với Cinderella, cuộc phiêu lưu của Gil không kết thúc mà bắt đầu lúc nửa đêm. Nơi đó, Gil gặp tất cả những tên tuổi lẫy lừng của Paris thuở ấy: Gertrude Stein, Salvador Dalí, Pablo Picasso, Luis Buñuel… những cái tên khiến gã biên kịch thất chí từ Hollywood lên cơn cực khoái vì hâm mộ. Và không phải nàng Adriana (Marion Cotillard) diễm tuyệt, nàng thơ của Pablo Picasso, mà chính Paris những năm 20, với cuộc tao ngộ hoang đường kia, đã cướp Gil khỏi tay vị hôn thê Inez (Rachel McAdams).

Nhìn bề ngoài, dường như gã trai Mỹ đã bị Paris chinh phục. Nhưng Gil không phải là người Mỹ đầu tiên ở Paris. Trước anh, đã có Jerry Mulligan[1], và Jerry mới là người chinh phục, cũng như những Louis Amstrong và Miles Davis từng làm cả Paris phải điên đảo thần hồn. Midnight kỳ thực là niềm kiêu hãnh ngấm ngầm của Woody Aleen về văn hóa Mỹ. Vì những người mà Gil ngưỡng mộ, những người định hình nên một phố thị phồn hoa bên dòng sông Seine, lại phần nhiều đến từ Tân Thế giới. Họ là George và Ira Gershwin, là Cole Porter, là Ernest Hemingway, là F. Scott và Zelda Fitzgerald. Và những người khác cũng là những kẻ lãng du, những khách bô-hê-miên mà cuộc tao loạn lưu ly Đệ nhất Thế chiến đã cuốn họ trôi về đất Ba-lê. Thiếu họ, Paris không còn là Paris hội hè miên man nữa. Vắng họ, Paris mất đi một phần không nhỏ sự quyến rũ thường ngày. Đó là lý do Paris của ngày, của hiện tại, của Carla Bruni, không quyến rũ bằng Paris của đêm.

Nhưng vì đêm rồi sẽ qua và mộng rồi sẽ hết, nên Gil không thể không trở về với Paris của ban ngày, nơi chàng tiếp bước Jerry, quyến rũ một nàng thiếu nữ Paris. Để từ nay, chàng có thể kiêu hãnh mà rằng: “Ta đến, ta thấy, và ta chinh phục!”

Bài đăng trên Đẹp số tháng 6/2012

Tuesday, May 15, 2012

The Godfather

Bốn mươi năm sau ngày ra đời, Godfather vẫn được xem như một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại; vẫn đứng thứ hai trong danh sách 100 phim xuất sắc nhất của Viện phim Mỹ; vẫn đứng thứ hai trong Top 250 phim cao điểm nhất của IDMB. Và tiếp tục được không ít đàn ông gọi tên, khi được hỏi về bộ phim mình yêu thích nhất.

Rốt cục thì vì sao, Godfather lại quyến rũ cánh đàn ông đến thế?

Điều đầu tiên và trước hết: thể loại! Gangster, và phim gangster, là một món đặc sản Hoa Kỳ. Phim gangster nói chung, với súng ống, máu lửa, và tình huynh đệ, luôn là một thứ adrenaline, một liều thuốc rất dễ gây nghiện đối với đàn ông. Mà Godfather thì lại là Bố già của thể loại gangster, nên chuyện đàn ông mê Godfather không có gì là khó hiểu. Mê đến như Cổ Long, viết cả một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp Lưu tinh, hồ điệp, kiếm – lấy nguyên mẫu nhân vật chính từ Don Corleone.

Điều thứ hai, Godfather là một (đúng ra là hai) câu chuyện chỉ dành riêng cho đàn ông. Câu chuyện thứ nhất là về một chàng trai, bằng trí tuệ, bằng dũng khí, bằng sự tàn nhẫn, vươn lên ngôi vị ông trùm của thế giới mafia. Cái giấc mơ vùng vẫy giang hồ ấy hẳn đã từng đeo đuổi không ít gã trai suốt một thời niên thiếu. Câu chuyện thứ hai, thật hơn, đời hơn, và gần gũi hơn, là về tình phụ tử. Về một đứa con ghé vai gánh vác cơ nghiệp cả đời của người cha khi gia đình gặp cảnh hiểm nghèo. Nhiều người đàn ông chưa chắc đã nhận ra điều đó, nhưng tự đáy lòng mình họ lại đồng cảm với nó một cách rất bản năng.

Điều thứ ba, và có lẽ cũng là cốt lõi: Godfather có một tuyến nhân vật nam hết sức đặc biệt, nếu không muốn nói là hùng hậu. Từng người đều là điển hình cho một mẫu đàn ông. Trong số họ, có người gần như hoàn mỹ như Michael, và có những người khiếm khuyết như Santino hoặc Johnny (Fontane), nhưng không ai có thể phủ nhận rằng họ rất rất điển hình.

Hai nhân vật chính, Vito và Michael Corleone, chia sẻ một phẩm chất chung: họ là những nhà lãnh đạo bẩm sinh. Óc khôn ngoan, lòng quyết đoán, và sự nhẫn tâm cho họ đứng trên người khác; và khi trời sập xuống, đã có họ nghiêng vai chống đỡ. Nhưng cả hai, xét cho cùng, đều là những người hùng bất đắc dĩ. Vito, nếu không bị Don Fanucci dồn đến đường cùng, hẳn đã an phận là một anh bán rau quả. Michael, nếu không phải chứng kiến cảnh bố mình thập tử nhất sinh, hẳn sẽ không bao giờ dính dáng đến sự vụ của nhà Corleone. Chỉ khi bước vào hiểm cảnh, những tố chất siêu việt ấy mới trỗi dậy trong họ.

Nhưng giữa Vito và Michael không phải không có khác biệt. Vito là dân Ý gộc, đại diện cho truyền thống; còn Michael, sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ, đại diện cho sự giao thoa của hai nền văn hóa. Mặc dù vậy, nhưng Michael lại thoải mái như cá gặp nước khi trở về nguồn cội. Khí chất của anh không chỉ bộc lộ khi hạ sát kẻ thù hay khi điều hành gia tộc, mà còn được thể hiện (trong những tháng ngày lưu lại đất Sicily) theo một cách khiến cánh đàn ông không khỏi thở dài ngưỡng mộ. Cái cách Michael chinh phục Apollonia và gia đình cô, nó vừa tôn nghiêm, vừa hùng hồn, vừa câm lặng. Cái cách Michael đối diện với ông bố vợ tương lai, với các bà cô bà bác bà dì lẽo đẽo theo chân đôi tình nhân trẻ, nó vừa tự tin, vừa điềm tĩnh, vừa ngạo mạn. Người viết tin rằng, khi xem tới đoạn này, nhiều anh con giai chỉ ao ước rằng mình có một nửa cái khí phách của Michael mỗi lần ló mặt đến nhà nhạc phụ tương lai. Rõ ràng, Michael là hiện thân của sự mẫu mực trong mọi vai trò mà anh gánh vác: là người lính, anh được phong anh hùng; là đứa con, anh kế thừa xuất sắc cha mình; là người chồng, anh có sự tôn sùng tuyệt đối từ Apollonia; là ông trùm, anh được đàn em kính nể và kẻ thù sợ hãi. Chưa hết, anh (trong ngoại hình của Al Pacino) lại đẹp trai lồng lộng, và ăn mặc cũng cực kỳ khí phái nam nhi (hay tất cả đàn ông ngày đó đều ăn mặc như thế, khác hẳn phong cách metrosexual nhan nhản thời nay?) Đời một thằng đàn ông, thử hỏi còn mong gì hơn thế?

Nếu Vito và Michael là một cặp đôi của sự tương đồng thì Santino Corleone và Tom Hagen lại là một cặp đôi của sự đối lập – từ địa vị đến ngoại hình và tính cách. Sonny là con đẻ, Tom là con nuôi; Tom người Mỹ tóc vàng, Sonny dân Ý tóc đen; Tom là văn quan, Sonny là võ tướng; Tom lạnh lùng trầm tĩnh bao nhiêu thì Sonny máu nóng, bốc đồng bấy nhiêu. Cái tỉnh táo đầy lý trí của Tom và cái hoang dại rất bản năng của Sonny đều là hai mặt của người đàn ông, và chúng ta có thể không thấy mình rõ lắm ở con-người-siêu-nhiên Michael, nhưng sẽ thấy mình ít nhiều ở một hoặc cả hai nhân vật này.

Một nhân vật khác cũng không kém phần đặc biệt của Godfather, chính là Johnny Fontane. Trở lại với câu hỏi “đàn ông còn mong gì hơn thế”: có lẽ không ít người, nếu không mong được như Michael, sẽ mong được như Johnny Fontane. Johnny, mà giọng ca êm như nước và mềm như lụa khi ca bài I have but one heart đã thuốc chết bao trái tim thiếu nữ trong đám cưới của Connie lúc đầu phim. Johnny, mà nguyên mẫu, theo giang hồ đồn đại, chính là Frank Sinatra lẫy lừng một thuở, thần tượng của vô vàn cô bé tuổi ô mai. Godfather phim không dành cho Johnny nhiều đất diễn, nhưng Godfather truyện lại khắc họa rất kỹ chân dung gã kép đào hoa, mà đoạn anh Johnny cua bé Sharon, dưới ngòi bút Mario Puzo và qua bản dịch Ngọc Thứ Lang, xứng đáng gọi là tuyệt tác về nghệ thuật à ơi, và cả về đạo hạnh của một gã lãng tử phong tình.

Puzo đã vẽ nên những cá tính lớn, và điều còn lại mà Coppola phải làm là chọn mặt gửi vàng cho từng vai diễn. Cả Corleone bố và Corleone con đều đáng gọi là những con phượng giữa bầy gà, và Coppola không có giải pháp nào khác ngoài việc đi tìm chim phượng để vào vai chim phượng. Con phượng già tên là Marlon Brando, cây đại thụ, kẻ mở đường, biểu tượng về sức hút nam tính của điện ảnh. Chọn người đàn ông đàn ông nhất Hollywood vào vai Don Corleone, Coppola không sai lầm và không thể sai lầm. Cái giỏi của ông là đôi mắt xanh đã nhìn ra hình hài chú phượng non đang trổ mã trong Al Pacino (Michael chỉ là vai chính thứ hai trong bộ phim thứ ba của chàng diễn viên vô danh). Và nếu tính cả phần hai, với De Niro trong vai Vito thời trẻ, thì có thể nói Coppola đã được trời phú cho một bộ ba thần thánh để biến câu chuyện truyền kỳ của nhà Corleone thành bất tử.

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 6/2012