Saturday, June 16, 2012

The Lord of the Rings

Dịp gần đây, người viết có đọc bài phỏng vấn một tác giả trẻ của kiếm hiệp Đại lục. Trước nhận xét “kiếm hiệp đã cạn đề tài, chỉ quanh quẩn mấy câu chuyện ân oán tình thù cũ rích, chẳng còn gì mới mẻ cả”, anh ta cười bảo: “Thì Harry Potter là gia hận đó, Chúa Nhẫn là quốc thù kìa, thế giới người ta cũng chỉ lật đi lật lại chừng đó loại thôi.”

Câu nói ấy tuy đơn giản, nhưng lại gợi lên rất nhiều suy nghĩ, đặc biệt là về Lord of the Rings, một Mahabharata của Châu Âu thời hiện đại. Truyện cũng như phim, tác phẩm này đã tạo nên một thế giới huyền ảo, mê hoặc vô số độc giả cũng như khán giả khắp thế giới. Nhưng ở Middle Earth của Tolkien, nếu gạt bỏ đi những nguy nga hùng vĩ thần tiên tráng lệ, thì điều cuối cùng còn lại, one thing that rules them all, vẫn là các giá trị dẫu xưa nhưng chưa bao giờ cũ. Một trong số đó, là thứ tình cảm nhiệt thành và nguyên thủy của nhân loại mà ông lấy làm tên cho phần đầu và làm chủ đề xuyên suốt cho toàn bộ thiên sử thi: Fellowship of the Ring.

LOTR, tình bằng hữu hiện lên dưới muôn vàn hình tướng, trong muôn vàn hoàn cảnh, và đem lại cho chúng ta muôn vàn cung bậc cảm xúc khác nhau. Từ đầu phim, tình bạn hiện lên đẹp đẽ, thanh bình, như một bức tranh miền Shire. Nhưng đó chỉ là một khoảnh khắc thần tiên trước khi cả nhân loại bị cuốn vào loạn thế, và đây mới là bối cảnh thật sự thử thách tình bạn và làm nó tỏa ra thứ ánh sáng bất diệt, như ngôi sao Evenstar của nàng Arwen.

Xuyên suốt LOTR, làm người xem xúc động, đồng cảm, lo lắng, và ngưỡng mộ, là tình huynh đệ của bộ tứ hobbit: Frodo, Sam, Merry và Pippin. Mối tương giao của họ đặc biệt hơn hết thảy vì ẩn chứa sau ngoại hình thấp bé của họ là một tình bằng hữu cao cả và vĩ đại mà, như Aragorn đã nói, khiến toàn Middle Earth phải nghiêng mình kính phục và cảm tạ. Merry và Pippin chiến đấu vì ước mơ giản dị là về lại miền Shire. Frodo với Sam, bắt đầu từ chủ tớ và kết thúc là huynh đệ, đã vượt qua núi đao biển lửa, qua cám dỗ và ngờ vực, qua sự sống và cái chết, cũng chỉ để cùng nhau trở lại miền Shire.

Bắt đầu từ Shire và kết thúc ở Shire, tình cảm của các Hobbit về bản chất chính là một thứ “tình làng nghĩa xóm” đã thăng hoa và cứu vớt cả thế giới. Trong khi đó Hiệp hội Nhẫn là ẩn dụ về sức mạnh của một “thế giới đại đồng”, khi chín thành viên là đại diện cho nhiều chủng tộc (hobbit, người, tiên, người lùn, phù thủy) và đẳng cấp xã hội (vua, quý tộc, tiên nhân, pháp sư, trại chủ, nông dân). Tình bằng hữu giữa họ đã xóa nhòa và vượt qua những ranh giới ấy; gạt bỏ mọi mâu thuẫn, hiềm khích và định kiến, họ sát cánh để bảo vệ Middle Earth, bảo vệ nhau.

Dù Hiệp hội Nhẫn chỉ toàn nam, nhưng tình bằng hữu ở LOTR không phải là độc quyền của đàn ông. Thật khó mà quên được Arwen, tay ôm Frodo, kìm ngựa giữa dòng sông, đối mặt với các Nazgûl, quát lên đầy kiên định: “If you want him, come and claim him”. Và càng khó mà quên nổi Eowyn, tóc vàng, mặt lấm tấm tàn nhang, lạnh lùng thốt lên: “I am no man!” và một kiếm đâm suốt đầu Nazgûl Thủ lĩnh. Giữa một rừng chiến binh, nàng thiếu nữ Eowyn và cậu bé con Merry cùng nhau cầm gươm lên ngựa, và chính họ chứ không phải bất kỳ dũng sĩ nào, đã hạ sát Vua Nazgûl mà cả Gondor lẫn Rohan đều khiếp sợ. Đó há chẳng phải là vinh quang lớn nhất dành cho tình bằng hữu hay sao?

Không dừng ở đó, LOTR còn xem mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là một thứ tình bằng hữu. Trong cuộc chiến chống lại cái ác, thiên nhiên đã bắt tay với con người, khi con người, với đại diện là Merry và Pippin, chìa bàn tay hồn nhiên và chân thành của tình bạn cho thiên nhiên, đại diện là các Thần Rừng.

Một phần không nhỏ cái hùng tráng của LOTR đến từ những cảnh chiến tranh, đặc biệt hai là trận chiến bảo vệ Helm’s Deep và Minas Tirith, khi con người đối diện với họa diệt vong. Trong thời khắc đen tối nhất này, ta càng thấy sự đối lập giữa con người và quái vật, và nguồn gốc sức mạnh của nhân loại càng được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Đoàn quân Uruk-hai của Saruman đông hơn gấp bội, dũng mãnh và thiện chiến, nhưng đó là một tập hợp những cá nhân được cố kết bằng bạo lực, sợ hãi, tàn nhẫn và hủy diệt. Trong khi đó, Aragorn và Haldir, Gimli và Legolas, ngoài lưỡi gươm trong tay thì chỉ có tình bằng hữu là điểm tựa giúp họ đứng vững, trước những đợt công thành của hàng vạn Uruk-hai.

Trước trận Helm’s Deep, Gandalf ra đi với lời hẹn sẽ mang viện binh về khi tia sáng ban mai đầu tiên của ngày thứ ba xuất hiện. Chia tay đồng đội, Frodo ra đi với lời hứa sẽ mang chiếc Nhẫn đến Vực Diệt Vong. Trong cả hai lần ấy, người ở lại là Aragorn. Cả hai lần ấy, Aragorn đều tin, một niềm tin bất diệt, rằng bạn bè không bao giờ thất hứa. Tin đến mức đặt cược tính mạng bản thân và toàn quân vào niềm tin ấy. Và, cả hai lần, Aragorn đều thắng.

Nhưng LOTR không đơn thuần là câu chuyện của tình bằng hữu vững bền. Đó còn là câu chuyện về tình bằng hữu bị-tha-hóa và được-cứu-rỗi. Tình bằng hữu thiêng liêng là thế song cũng luôn đối mặt với thách thức, dù là hobbit, phù thủy hay con người. Ma chướng của chiếc Nhẫn khơi dậy ma tâm trong lòng Sméagol, và hắn đã giết bạn để chiếm đoạt chiếc Nhẫn và trở thành Gollum. Dã tâm quyền lực đã làm Saruman phản bội Gandalf, phản bội nhân loại để đi theo Sauron. Bản thân Frodo cũng đã không ít lần bị ma lực của chiếc Nhẫn khống chế, đe dọa hủy hoại tình cảm giữa cậu và Sam. Dù không phải bao giờ tình bằng hữu cũng chiến thắng như trong trường hợp của Sam với Frodo, nhưng cơ hội để sám hối thì vẫn có. Có khi sự chuộc lỗi đến sớm, như với Boromir – thoát khỏi ma thuật của chiếc Nhẫn, anh liền hy sinh để cứu Frodo. Có khi nó đến muộn, như với Đạo quân Tử thần, sau hàng nghìn năm mới có cơ hội hóa giải lời nguyền do phản bội Isildúr. Và cũng có khi cơ hội bị bỏ lỡ, như với Gollum – hắn đã có thể trở thành bạn của Frodo, nhưng cuối cùng vẫn không thắng nổi tâm ma trong lòng mình.

Nói cho cùng, tình bằng hữu, cũng như sự tồn tại, bền vững, hay tha hóa của nó, với Tolkien, đều là hệ quả những lựa chọn của con người.

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 7/2012

Saturday, June 9, 2012

Hẹn nhau ngày đó (ở St. Louis)

Ngày nay, phim gia đình vẫn chiếm một tỉ lệ không nhỏ ở các rạp chiếu phim. Nhưng số phim thực sự hay thì lại không nhiều, và, đôi khi, để tìm thấy một bộ phim như thế, ta phải ngược dòng thời gian rất xa để tìm về với những viên ngọc của quá khứ. Một trong những viên ngọc ấy là bộ phim musical của hãng MGM, Meet me in St. Louis (1944).

Năm năm sau thành công rực rỡ của Wizard of Oz, cô bé Dorothy (Judy Garland) nay đã lớn và hóa thân vào vai Esther Smith, một thiếu nữ tuổi vừa đôi tám ngụ ở 5153 Kensington Avenue, St. Louis – một thành phố lớn ven bờ Mississipi. Cô gái phải lòng chàng hàng xóm điển trai John Truett (Tom Drake) và tìm mọi cách để làm quen với John. Khi tình cảm giữa họ vừa chớm nở thì ông Smith cha cô lại có cơ hội thăng chức và quyết định cả gia đình sẽ dọn đến sống ở New York vào cuối năm, một cái tin rất đột ngột với nhà Smith, bởi ai nấy đều háo hức chờ đợi Hội chợ Thế giới 1904 sẽ được tổ chức vào cuối năm ở St. Louis. Trong bối cảnh ấy, Đêm Giáng sinh là sự kiện lớn cuối cùng của nhà Smith ở St. Louis, và cũng là cơ hội cuối cùng để John bày tỏ tình yêu của mình với Esther…

Meet me in St. Louis là một câu chuyện giản dị, nếu không muốn nói là kinh điển Hollywood, làm cho ta nhớ đến một bộ phim tương tự nhưng có lẽ nổi tiếng hơn nhiều là The Sound of Music. Judy Garland với đôi mắt to tròn đã mang giọng hát của mình vào bộ phim và lần đầu tiên đem đến với khán giả ba bài hát ngày nay đã trở thành một phần của The Great American Songbook – đó là The Boy Next Door, Trolley SongHave Yourself a Merry Little Christmas. Cảnh Esther mặc chiếc váy sọc, ngồi bên cửa sổ dưới vòm hoa và than thở: The moment I saw him smile, I knew he was just my style, sau hơn 60 năm có lẽ vẫn sẽ làm nhiều người xao xuyến, nhất là những thiếu nữ lần đầu biết tới hương vị của tình yêu. Và có lẽ cũng khó ai có thể quên được trường đoạn Esther đi xe điện và cất tiếng hát ngọt ngào: ‘Thump, thump, thump’ went my heartstrings. When he smiled I could feel the car shake. Sánh vai cùng Judy, Tom Drake rất tự nhiên hóa thân thành anh hàng xóm dễ thương, và mỗi lần anh xuất hiện, giữa John và Esther lại toát ra một vẻ bỡ ngỡ mà hồn nhiên rất đỗi tình đầu khiến ta không khỏi mỉm cười.

Sau Judy, có lẽ cô nhóc ‘Tootie’ Smith (Margaret O’Brien) là người đem lại nhiều tiếng cười nhất cho khán giả. Tootie là một bà cụ non chính hiệu với sở thích kỳ quái là làm lễ tang cho các em búp bê bị ốm; và mỗi trò nghịch ngợm vừa kỳ cục vừa ngộ nghĩnh của cô bé luôn là nguyên nhân gây rắc rối cho nhà Smith, nhưng chính nó cũng đã mang lại cho Margaret giải Oscar dành cho thiếu nhi năm 1944.

Nhưng nhà Smith không chỉ có Esther và Tootie. Đây là một đại gia đình gồm có Đại tá Darly (ông nội Esther), ông bà Smith, bốn chị em Rose, Alonzo Jr., Esther, Tootie và bác Katie giúp việc. Bên cạnh mối tình giữa Esther với John, cuộc sống của nhà Smith chính là những giây phút đẹp nhất và đầm ấm nhất của bộ phim. Mỗi chi tiết, dù lớn hay nhỏ, đều vẽ nên trước mắt khán giả một gia đình hạnh phúc và mẫu mực một cách đáng mơ ước. Đó là khi bà Smith và bác giúp việc ganh đua về công thức của món ketchup tuyệt hảo, là cảnh cả gia đình háo hức ngồi ở bàn ăn chờ đợi cuộc gọi đường dài từ ý trung nhân của cô chị cả Rose, là phản ứng giận dỗi của mọi người trong nhà, từ cô bé Tootie đến ông nội Darly, khi ông Smith thông báo sau Lễ Giáng sinh cả nhà sẽ chuyển đến New York.

Một vẻ đẹp nữa không thể không nhắc đến là từ cách nói chuyện cho đến lối ứng xử của mỗi người trong gia đình Smith, đều toát ra một vẻ lịch lãm rất đặc trưng của miền Nam nước Mỹ, vẻ lịch lãm từng mê hoặc người xem trong Gone with the Wind hay To Kill the Mocking Bird. Vẻ đẹp ấy càng trở nên duy mỹ hơn dưới gam màu rực rỡ đến phi thực của những thước phim Technicolor, khiến mỗi khi hoài cổ, người ta lại hẹn nhau tìm về với St. Louis, Louis…

Thursday, May 17, 2012

Một người Mỹ nữa ở Paris

Mấy năm gần đây, Woody Allen, chàng lãng tử già của Hollywood dường như đã chuyển nghề làm hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư, quảng bá không công cho những hòn ngọc của Châu Âu: đầu tiên là Vicky Cristina Barcelona (2008), rồi tới Midnight in Paris (2011), và sắp tới là To Rome with Love (2012). Có lẽ nào ông đã chán nước Mỹ mà ông từng đã rất yêu, và đã tìm được cho mình một (hoặc nhiều) tình yêu mới ở lục địa già?

Xem Midnight in Paris, ta mới thấy rằng, không hoàn toàn như vậy.

Woody vốn là một người “lịch duyệt” (các bạn Tây gọi là sophisticated), am hiểu văn chương (ông viết văn), âm nhạc (ông chơi clarinet), hội họa… Thế nên, trước khi là một đạo diễn, ông là một tâm hồn đồng điệu với những kẻ say jazz và yêu Jazz Age. Mà những kẻ như thế, ai chẳng ước ao được nghe Cole Porter chơi đàn, được uống café au lait với Hemingway ở Des Amateurs, được chén chú chén anh với Fitzgerald ở Dingo Bar. Hơn ai hết, Woody biết rõ và thậm chí là chia sẻ giấc mơ thầm kín ấy với không ít người trong số chúng ta. Và hơn ai hết, ông có trong tay thứ công cụ diệu kỳ có thể biến giấc mơ ấy thành hiện thực.

Xem Midnight, có cảm giác luôn có Woody cười khúc khích sau mỗi khuôn hình: các vị hình dung Paris thế này chứ gì. Thì đây, nó chính là thế đấy, nhìn đi, nghe đi, và mê mẩn đi. Lão già 74 không từ một chiêu gì để thuốc chết người xem với một Paris tráng lệ “như trong sách”. Và cái công thức về Paris ấy, cũng như món gâteaux au chocolat, luôn làm đám hảo ngọt chúng ta ăn lấy ăn để với một nụ cười tội lỗi. Câu chuyện Paris của Woody, vì thế, rất nhẹ nhàng, giản đơn, bay bổng, như một món tráng miệng thơm mùi nước Pháp của ngày xưa.

Midnight mở đầu bằng những khuôn hình đẹp như bưu thiếp của thủ đô nước Pháp những năm 2000. Những giữa không gian này, tiếng trumpet ngọt lịm của Sidney Bechet lại vẫy gọi một thời gian khác: thập niên 1920. Đây chính là những gì mà Gil (Owen Wilson), một phiên bản của Woody hồi trẻ, đã gặp ở Paris. Khác với Cinderella, cuộc phiêu lưu của Gil không kết thúc mà bắt đầu lúc nửa đêm. Nơi đó, Gil gặp tất cả những tên tuổi lẫy lừng của Paris thuở ấy: Gertrude Stein, Salvador Dalí, Pablo Picasso, Luis Buñuel… những cái tên khiến gã biên kịch thất chí từ Hollywood lên cơn cực khoái vì hâm mộ. Và không phải nàng Adriana (Marion Cotillard) diễm tuyệt, nàng thơ của Pablo Picasso, mà chính Paris những năm 20, với cuộc tao ngộ hoang đường kia, đã cướp Gil khỏi tay vị hôn thê Inez (Rachel McAdams).

Nhìn bề ngoài, dường như gã trai Mỹ đã bị Paris chinh phục. Nhưng Gil không phải là người Mỹ đầu tiên ở Paris. Trước anh, đã có Jerry Mulligan[1], và Jerry mới là người chinh phục, cũng như những Louis Amstrong và Miles Davis từng làm cả Paris phải điên đảo thần hồn. Midnight kỳ thực là niềm kiêu hãnh ngấm ngầm của Woody Aleen về văn hóa Mỹ. Vì những người mà Gil ngưỡng mộ, những người định hình nên một phố thị phồn hoa bên dòng sông Seine, lại phần nhiều đến từ Tân Thế giới. Họ là George và Ira Gershwin, là Cole Porter, là Ernest Hemingway, là F. Scott và Zelda Fitzgerald. Và những người khác cũng là những kẻ lãng du, những khách bô-hê-miên mà cuộc tao loạn lưu ly Đệ nhất Thế chiến đã cuốn họ trôi về đất Ba-lê. Thiếu họ, Paris không còn là Paris hội hè miên man nữa. Vắng họ, Paris mất đi một phần không nhỏ sự quyến rũ thường ngày. Đó là lý do Paris của ngày, của hiện tại, của Carla Bruni, không quyến rũ bằng Paris của đêm.

Nhưng vì đêm rồi sẽ qua và mộng rồi sẽ hết, nên Gil không thể không trở về với Paris của ban ngày, nơi chàng tiếp bước Jerry, quyến rũ một nàng thiếu nữ Paris. Để từ nay, chàng có thể kiêu hãnh mà rằng: “Ta đến, ta thấy, và ta chinh phục!”

Bài đăng trên Đẹp số tháng 6/2012