Sunday, September 16, 2012

Malèna

Những người đàn bà đi qua đời tôi, ai cũng nói rằng “Hãy nhớ em!” Người duy nhất mà tôi nhớ, đến tận bây giờ, chính là người duy nhất chưa bao giờ nói, Malèna.

Renato Amoroso kết thúc câu chuyện về nàng Mary Magdalene của mình như thế. Một cậu bé mười bốn tuổi, tên là yêu đương (amore), đem lòng mê đắm một thiếu phụ hai mươi bảy tuổi đẹp tựa Nữ thần, và có cái tên làm người ta nhớ đến người nữ ái đồ lừng danh của Chúa: Maddalena Scordia (và thật tình cờ, Monica Bellucci cũng chính là người thủ vai Magdalene trong The Passion of the Christ).

Như đạo diễn Salvatore Di Vita của Cinema Paradiso, và như tay kèn Max Tooney của Legend of 1900, Renato cũng ôm trong lòng một nỗi hoài nhớ đầy khắc khoải. Nhưng có lẽ, nỗi nhớ của Renato sẽ có được sự đồng cảm từ cánh đàn ông nhiều hơn cả, bởi trên đời này có bao nhiêu cậu trai mười ba, mười bốn, đã trao những rung cảm đầu đời cho một người đàn bà hơn tuổi, một người đàn bà có nụ cười xe chỉ ấm trôn kim?

Người đàn bà này, nàng Malèna xứ Sicily này, chỉ có thể là Monica Bellucci. Vai diễn này sinh ra dành cho nàng. Mà cũng chỉ có nàng, biểu tượng của vẻ đẹp Ý hậu Sophia Loren, mới xứng đáng vào vai diễn này. Tornatore đích thực là một đạo diễn tài ba, nhưng nếu không có Monica, Monica với mái tóc đen huyền, bờ môi đầy nhục cảm, ánh mắt u uẩn, và thân hình của một thần Vệ nữ Phục hưng, thì Malèna sẽ chẳng bao giờ có thể là Malèna mà chúng ta từng biết.

Malèna buổi ban đầu là một thiếu phụ thời chiến điển hình: nàng yêu và nhung nhớ người chồng ra trận. Chỉ có điều, nàng quá đẹp, và vẻ đẹp ấy đã đem lại cho nàng bao khó khăn và sức ép giữa một thị trấn mà ngồi lê đôi mách, đồn thổi và đơm đặt đã thành lẽ sống của người dân. Trước những đòn đánh của chiến tranh và của người đời, nàng gục ngã, phó mặc cho số phận. Đến một lúc nào đó, nàng trở nên bất cần – nếu người đời vu cho nàng là một con điếm, thì nàng sẽ là một con điếm. Cuối cùng, khi số phận xót thương nàng, cho nàng cơ hội, nàng lại can đảm trở về, đối mặt với nơi từng cướp đi của nàng tất cả – chồng, cha, tự tôn, và nhân phẩm…

Tất cả những sắc thái và diện mạo khác nhau này của Malèna, từ một thiếu phụ lắc đầu trông nắng vãn bên sông tới cô gái tóc vàng “hãy cố vươn vai mà sống, tô son lên môi lạnh lùng”, dường như, với Monica, đều có sẵn từ trong máu. Nàng không cần diễn, nàng chỉ cần đứng đó thôi, khí chất tự nhiên của một nữ thần ba mươi sáu tuổi sẽ thay nàng làm tất cả.

Suốt những ngày tháng thăng trầm của Malèna, luôn có một đôi mắt nâu trong veo của tuổi mười ba đầy si mê và ngưỡng vọng dõi theo nàng. Renato yêu nàng vừa như một người đàn bà, vừa như một thánh nữ – cách mà những cậu trai non tơ luôn yêu những người đàn bà thành thục. Tình cảm Renato dành cho Malèna vừa có cái khát khao nhục dục rất đỗi bản năng của một cậu bé đang tuổi dậy thì, vừa có niềm sùng kính của một tâm hồn thuần khiết với hiện thân của cái Đẹp. Hai thái cực tưởng như mâu thuẫn này đã hòa quyện vào nhau một cách hết sức tự nhiên, trong suốt thời niên thiếu và cũng là thời-say-đắm của Renato.

Những ký ức của Renato, qua ống kính của Tornatore, cũng hòa quyện với nhau với cùng một sự tự nhiên như thế. Chắc hẳn nhiều người sẽ mỉm cười khi thấy Renato đắm mình vào những huyễn tưởng trẻ thơ – từ Tarzan đến Caesar, từ võ sĩ giác đấu bất bại đến tay súng Viễn Tây oai hùng… Mỗi khuôn hình đen trắng này lại làm ta nhớ đến Cinema Paradiso, bởi đó là sự gặp gỡ của hai niềm đam mê trong tim cậu bé: Malèna và điện ảnh. Và chắc cũng không ít người bùi ngùi khi chứng kiến Renato đau khổ trong nỗi ghen tuông đầu đời. Ghen tuông một cách đầy cao quý và bao dung. Ghen tuông và thấy mình bất lực. Có lẽ chỉ sự thuần khiết của Renato mới đủ sức kháng cự lại những đòn đánh mà số phận đã giáng xuống đầu Malèna, qua đó gián tiếp công kích trái tim non nớt đang rực lửa yêu đương của cậu bé. Đau lòng biết mấy trước mỗi lần sa ngã của người đàn bà yếu đuối, nhưng cậu bé vẫn yêu, vẫn xót thương, vẫn cảm thông, và vẫn sẵn lòng tha thứ – điều không phải gã đàn ông nào ở vào địa vị cậu cũng làm được.

Renato yêu Malèna khi cậu bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên, và khi tình yêu kết thúc, cũng là lúc cậu trở thành người lớn. Nói đúng hơn, cuộc tình thầm lặng ấy đã mang Renato từ miền trẻ thơ sang bờ thành trưởng. Tất cả những trải nghiệm đầu đời của cậu đều gắn liền với bóng hình người đàn bà kiều mị ấy: từ chiếc xe đạp đầu tiên tới chiếc quần dài đầu tiên, từ bức thư tình đầu tiên tới lần làm tình đầu tiên. Hết đắm đuối hờn ghen với mối tình đầu đặc biệt, Renato lại vật vã với bản thân và với gia đình trên con đường trở thành người lớn. Nhưng cuộc thành nhân của cậu bé, trong vòng tay bà mẹ mê tín mà thương con và ông bố dữ đòn, mang màu sắc hài hước bao nhiêu, thì cuộc yêu của Renato lại ngọt ngào mà cay đắng bấy nhiêu. Yêu Malèna, Renato đã nếm trải, chứng kiến mọi tư vị của cuộc đời, bởi Malèna chính là tấm gương phản chiếu cuộc đời một cách chân xác nhất. Ở nàng, Renato đã thấy hết: sự tàn phá ghê gớm của chiến tranh, sự tàn nhẫn của con người, sự vô tình của xã hội… Nàng, với Renato, là hiện thân của cái Đẹp, bị Dục vọng thèm khát, Ghen tị thù ghét, và cái Ác chà đạp. Cuối cùng, khi cái Đẹp bị Chính chuyên đánh hội đồng giữa quảng trường thành phố, trong nỗi kinh hoàng thảng thốt, Renato bỗng nhận ra rằng, để thực sự trưởng thành, người đàn ông không thể thiếu một chút lòng can đảm…

Sau Monica Bellucci và sau Giuseppe Sulfaro trong vai Renato, sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến diễn viên thứ ba đã làm Malèna trở thành một bài ca buồn không thể nào quên: âm nhạc. Suốt một trăm lẻ chín phút, Renato-người-lớn chỉ nói vài lời. Phần còn lại dành cho Ennio Morricone, bởi ông đã thay Renato nói lên tiếng lòng của hiện tại khi hoài niệm về quá khứ. Âm nhạc của Morricone lúc náo nức hăm hở như từng vòng quay bánh xe của Renato đuổi theo nàng, khi lại cười đùa giễu cợt trước cảnh đám đàn ông tay chân xoắn quẩy trước mặt nàng. Nhưng khi chỉ còn lại nàng với Renato, trong chốn riêng tư của tình yêu câm lặng, giai điệu dặt dìu quen thuộc của nỗi hoài nhớ lại trỗi dậy, như ngọt ngào thủ thỉ, như khắc khoải chờ mong, như ngậm ngùi tiếc nuối, và cả hổ thẹn một cách âm thầm… Và mỗi lần như thế, ta lại như nghe thấy Renato-của-hiện-tại đang mơ màng níu gọi: Ma-lè-na!

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 10/2012

Monday, August 20, 2012

Một tấm lòng chất phác

Sau khi đã mệt mỏi với những Tree of Life, chán chường với những Melancholia, và ám ảnh với những Antichrist, đôi khi, điện ảnh cần đến một lời nhắc nhở dịu dàng, rằng giản dị và đời thường vẫn luôn có thể là cội nguồn của cái đẹp, miễn là có một con mắt khám phá ra nó, lưu giữ nó, và đem nó đến với tất cả chúng ta. Năm 2012 này, người làm được điều ấy, có lẽ là Hứa An Hoa.

Câu chuyện ở Đào thư rất giản đơn, giản đơn như cái tên tiếng Anh và như tông màu rất nhạt của phim: A Simple Life. Một người phụ nữ bảy mươi bị ốm và một người đàn ông bốn mươi đứng trước nhiệm vụ phải chăm sóc bà. Có điều, quan hệ giữa chị Đào, tên tục A Đào, tên đầy đủ Chung Xuân Đào, và đạo diễn Lương La Kiệt, thiếu gia nhà họ Lương, không phải là mẹ con. Họ là người giúp việc và cậu chủ. Đào thư kể về cách hai thân phận ấy ứng xử với cuộc khủng hoảng đã phá vỡ nhịp sống thường ngày của gia đình họ (họ thực sự là một gia đình).

Chuyện về một người đàn bà, do một người đàn bà làm đạo diễn, tất nhiên, sẽ có cái chi tiết và tỉ mỉ rất đỗi đàn bà. Nhân vật của Hứa An Hoa không nói, họ dùng cử chỉ thay lời nói, để nói ra một sự im lặng rất đỗi hùng hồn. Bữa tối của La Kiệt và chị Đào diễn ra trong lặng lẽ, nhưng từ nó là biết bao yêu thương, trìu mến và quan hoài giữa bà-mẹ-người-làm và đứa-con-thiếu-chủ.

Khi họ đổi vai cho nhau – người 60 năm chăm sóc người khác trở thành người được chăm sóc, còn người đã 40 năm được chăm sóc giờ phải chăm sóc người kia – cả chị Đào lẫn La Kiệt đều bỡ ngỡ, theo cách của riêng mình. Một ngỡ ngàng trước sức nặng của tuổi tác, bệnh tật và nỗi cô đơn tất yếu luôn rình rập một bà lão độc thân. Một bỡ ngỡ trước trách nhiệm trĩu nặng lần đầu trên vai gã trai bốn mươi chưa vợ. Nhưng chị Đào, qua diễn xuất của Diệp Đức Nhàn, đón nhận nó an nhiên và bình thản. Cũng như chị Đào suốt đời an phận người hầu, Diệp Đức Nhàn cả đời chuyên vào vai phụ. Nhưng trong lần vào vai Đào (chính) hiếm hoi này, bà đã làm cả Venice phải nghiêng mình với Cúp Volpi cho vai nữ chính xuất sắc nhất. Trong khi đó, La Kiệt (Lưu Đức Hoa) đảm nhiệm vai trò con nuôi một cách dũng cảm và trọn vẹn, dẫu còn chút vụng về của gã công tử bột. Điều duy nhất đáng tiếc, có chăng, là khâu biên tập thiếu một chút tiết chế, để câu chuyện cô đọng hơn, ít dàn trải hơn, và ngon đến miếng cuối cùng, như món lưỡi bò trứ danh của chị Đào.

Ân tình sâu đậm giữa chị Đào với La Kiệt và gia đình anh đẹp bình lặng như một chuyện cổ tích thời hiện đại, nhất là khi đặt nó bên cạnh thế giới phù hoa của đạo diễn họ Lương. Sự xuất hiện hài hước và bất gờ của ba đạo diễn Từ Khắc, Ninh Hạo, và Hồng Kim Bảo với ba vai cameo càng gia tăng sự tương phản ấy. Nhưng khi mối quan hệ ấy được đặt trên cái nền là Viện dưỡng lão với những mảnh đời già nua, cô đơn đến tội nghiệp, hiện thực vụt trở lại, thẳng thừng và tàn nhẫn. Ta chợt hiểu rằng: câu chuyện của chị Đào, ngày nay, chẳng còn bao nhiêu nữa. Chị là một cái đẹp ngày xưa, của cái thời đã một đi không trở lại. Những người giúp việc như A Đào không còn nữa. Có lẽ vì, những người như bà Lương, chủ nhân xứng đáng của những người giúp việc như thế, cũng không còn mấy nữa.

Những gì còn lại, giờ đây, chỉ là nỗi hoài nhớ của những ai từng sống trong vòng tay tận tụy và âu yếm của A Đào, trong đó có lũ bạn học phổ thông của La Kiệt –đám trai già vừa cắn một miếng lưỡi bò đã nghe tuổi thơ bồi hồi trở lại, vội vàng bốc điện thoại lên ríu rít gọi: Chị Đào! Âu cũng là một bài học dành cho phái nữ: muốn cho đàn ông nhớ, đàn bà nhất thiết phải giỏi nấu ăn.

Bài đăng trên Đẹp số tháng 9/2012

Thursday, August 16, 2012

Những người cha trong đời Batman

Tim Burton là người đã mang Batman đến với điện ảnh. Nhưng phải đợi đến Christopher Nolan, Batman mới thật sự bước vào đời thực. Khác với Batman của Burton, lập dị mà xa cách, Người Dơi của Nolan gần hơn, thật hơn, đời hơn, như anh tự thừa nhận: “Ai cũng có thể là Batman.” Một phần không nhỏ cái gần, cái thật và cái đời ấy đến từ quan hệ của Bruce với những người xung quanh, đặc biệt là những hình-tượng-người-cha hằng đổ bóng xuống đời anh.

Nói đến Batman, người ta nghĩ ngay đến một người hùng cô độc, một mình chống chọi với cái ác để bảo vệ công lý, bảo vệ Gotham. Người Dơi của Nolan không, và không thể, là như thế. Để có thể chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến song trùng với cái Ác và với cả bản thân mình, Batman cần phải có sự ủng hộ và hậu thuẫn về mọi mặt – vật chất, thể chất, và (nhất là) tinh thần. Và đây là chỗ để những người cha của Batman xuất hiện.

Người cha đầu tiên, lẽ đương nhiên, là cha ruột của anh, bác sĩ Wayne. Tuy mất sớm nhưng ông đã kịp để lại cho Bruce hai di sản lớn. Thứ nhất là tấm gương về nhân cách và tình yêu Gotham để suốt đời Bruce noi theo. “Vì sao ta ngã? Để ta có thể học cách đứng lên”. Câu nói này đã in sâu vào ký ức Bruce, và không thể kể hết những lần nó đã là nguồn sức mạnh giúp Batman đứng dậy, đặc biệt là ở Dark Knight Rises. Thứ hai là sản nghiệp khổng lồ của Wayne Enterprises mà nếu không có nó sẽ chẳng thể có Batcave, Batsuit, Batpod, và dĩ nhiên cả Batman. Câu nói của Alfred Pennyworth sau khi Wayne Manor cháy rụi thế mà rất đúng, theo nghĩa vật chất lẫn tinh thần: “Di sản của gia tộc Wayne đâu chỉ có gạch và vữa!”

Và trong số những di sản Bruce thừa kế từ dòng họ, quý giá nhất chính là người lão bộc trung thành có cái họ kỳ quặc: “đáng giá một xu.” Ông yêu thương Bruce bằng tình yêu của một người cha và chăm sóc anh bằng sự tận tụy của một người hầu. Ra ngoài, anh là Batman oai hùng; nhưng về nhà, anh đích thực là cục cưng của Alfred. Ngày cũng như đêm, lúc mạnh khỏe lẫn khi thương tích, Alfred luôn ở bên Bruce, lo lắng cho anh, yểm trợ cho anh, vỗ về, khuyên nhủ, và cảnh tỉnh anh mỗi khi cần thiết. Nếu bầu trời sụp xuống Gotham, đã có Batman chống đỡ. Nhưng khi bầu trời sụp đổ trên đầu Bruce Wayne thì sao? Người đứng ra chống đỡ giùm anh, che chở cho anh, hy sinh vì anh, không phải ai khác ngoài Alfred. Alfred với sự minh triết và từng trải của bậc ẩn giả. Alfred với sự lịch lãm và óc hài hước của một nhà quý tộc. Alfred-người-Cha. Trong số những nhân vật phụ mà Nolan tạo đã ra, Alfred đích thực là hình tượng xuất sắc nhất, nhân văn nhất, và cũng trường tồn nhất của cả trilogy.

Người cha thứ ba, chính là sư phụ của Batman, Ra's al Ghul. Dù cuối Batman Begins, họ trở thành địch thủ và thầy chết dưới tay học trò, song vai trò của ông trong sự hình thành của Hiệp sĩ Bóng đêm là không thể phủ nhận. Trước khi gặp Ra’s al Ghul, Bruce Wayne không là gì ngoài một chàng triệu phú trẻ căm thù cái ác. Chính ông đã tôi luyện Bruce, trang bị cho anh những kỹ năng để tuyên chiến với cái Ác. Kể cả về sau này, khi Ra’s al Ghul đã chết, di sản của ông ta, bóng ma của ông ta và lý tưởng mà ông ta theo đuổi, vẫn tiếp tục ám ảnh Batman qua hai người bạn đồng môn của Batman – Bane và Talia.

Người cha thứ tư, là Cảnh sát trưởng Gordon. Có thể có người sẽ nghĩ Gordon yếu đuối và vô dụng, chỉ biết trông chờ vào Batman để duy trì trật tự và công lý cho Gotham. Nhưng bản thân Bruce không nghĩ thế. Trong mắt anh, Gordon là một con người chính trực, người làm yên lòng một cậu bé mất cha chỉ bằng một hành động giản đơn là khoác tấm áo choàng lên vai cậu, để cậu biết rằng thế giới chưa chấm dứt. Sự tồn tại mà không bị tha hóa của Gordon giữa Gotham đã đem đến cho Batman một người đồng đội, và tiếp thêm sức mạnh cho anh trong cuộc chiến chống cái ác. Và khi chính Batman đã nghĩ về Gordon như một người cha, chúng ta là ai mà có quyền nói điều ngược lại?

Người cha thứ năm, có một chút ngạc nhiên, là Lucius Fox. Nếu Alfred là hậu phương vững chãi của Batman thì Lucius là đồng đội đáng tin cậy của anh ngoài tiền tuyến. Alfred lo việc nhà trong khi Lucius quán xuyến việc công ty, đảm bảo rằng Wayne Enterprises ăn nên làm ra và sẵn sàng về nguồn lực cho những cuộc chiến của Batman. Nhưng Lucius đối với anh không chỉ như Q với James Bond. Không chỉ cung cấp “đồ chơi” cho Batman, người bạn của cha Bruce còn là lương tri “dự phòng” của anh. Khi Batman phát triển công nghệ sonar thành hệ thống theo dõi cả Gotham, ông lập tức nghiêm khắc nhắc nhở anh đã vượt quá giới hạn và yêu cầu anh cam kết phá hủy cỗ máy sau khi bắt được Joker. Việc Batman gửi gắm thiết bị này cho Lucius và cài sẵn mật khẩu tự hủy bằng tên ông đã cho thấy sự tôn trọng đặc biệt và tin tưởng tuyệt đối anh dành cho người bạn lớn này.

Năm con người trên đều đặc biệt quan trọng với Batman. Có nhiều cách để hiểu họ quan trọng đến mức nào; và cách đơn giản nhất là nhìn vào dàn diễn viên mà Nolan đã chọn cho những vai diễn này. Trừ Linus Roache chỉ xuất hiện trong vài phút, bốn cái tên còn lại không ai không làm ta phải chắt lưỡi: Sir Michael Caine. Liam Neeson. Gary Oldman. Morgan Freeman. Bốn tên tuổi mà sự xuất hiện của chỉ một trong số này thôi cũng đủ là bảo chứng cho bất kỳ bộ phim nào. Vậy mà Nolan phải vời đến tất cả, thì đủ biết vai trò của các father figure này lớn đến đâu trong mắt Nolan và trong đời Batman.

Có thể liên tưởng sau đây hơi quá xa, nhưng tuyến nhân vật người cha này bỗng làm cuộc đời Batman có gì đó rất tương đồng với Quách Tĩnh ở Xạ điêu anh hùng truyện. Cả hai đều mồ côi từ nhỏ, đều có một người cha ruột là tượng trưng cho chuẩn mực đạo đức. Họ đều có nhiều người cha – Batman có năm và Quách Tĩnh mười hai. Bóng dáng những người cha này luôn hiện hữu trong đời họ, dẫn dắt họ trưởng thành. Và, cả hai đều phải đối đầu với một trong những người cha của mình – Batman với Ra’s al Ghul, Quách Tĩnh với Thành Cát Tư Hãn…

Nhưng nếu nghĩ gần hơn chút nữa, câu chuyện về Batman không chỉ giống riêng một gã Quách Tĩnh, mà giống tất cả chúng ta. Cuộc phiêu lưu của Batman hoang đường là thế, phi thường là thế, nhưng cũng rất đời và rất người, vì rốt cục nó có thể được gói gọn trong tám chữ: những lần vấp ngã, những bận đứng lên. Bruce chỉ may mắn hơn đời ở chỗ, anh có những người cha sẵn sàng vấp ngã cùng anh. Như, ngày anh còn bé, Alfred có lần đã hỏi: “Took quite a fall, didn’t WE?”

Bài đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 9/2012