Saturday, March 7, 2009

Film Credits hay “Tại sao tôi ngồi lại thêm năm phút?”

Định nghĩa một cách ngắn gọn nhất, film credits là danh sách những người đã tham gia thực hiện một tác phẩm điện ảnh. Một khái niệm dễ hiểu, và tưởng chừng như cực kỳ đơn giản, vốn đã trở nên rất quen thuộc với khán giả từ khi môn nghệ thuật thứ bảy mới khai sinh. Kỳ thực, có không ít chuyện có thể nói và đáng để nói về hai chữ ấy.

Như rất nhiều yếu tố khác cấu thành một nền công nghiệp điện ảnh đồ sộ như ngày nay, film credits ra đời từ rất sớm và đã trải qua một thời gian dài tồn tại và phát triển trước khi thực sự được định hình và chuẩn hóa vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước.

Thông thường, film credits của một bộ phim sẽ gồm hai phần: opening credits và ending credits. Như tên gọi của mình, opening credits xuất hiện ngay phần đầu bộ phim, liệt kê tên những thành viên quan trọng nhất như đạo diễn, nhà sản xuất, diễn viên chính… Ending credits xuất hiện sau khi bộ phim kết thúc, và kể từ thập niên 70 trở lại đây, nó thường là một danh sách dài dằng dặc liệt kê TẤT CẢ (vâng, tất cả!) những người đã có đóng góp vào quá trình sản xuất bộ phim. Nói cách khác, dù bạn chỉ là một nhân viên lo việc trang phục cho Batman, bạn cũng sẽ được xuất hiện bên cạnh Christian Bale và Heath Ledger trong ending credits của The Dark Knight. Dĩ nhiên bạn sẽ phải đợi khá lâu để có thể chỉ cho bạn gái thấy tên mình trên màn ảnh, nhưng dẫu sao đó cũng là một điều đáng để tự hào đấy chứ?

Như trên đã nói, opening credits xuất hiện ngay ở đầu phim, và trong một vài trường hợp nó có thể được biến tấu thành title sequence, và trở thành một phần không thể tách rời của nội dung phim. Một ví dụ tiêu biểu là series 007, từ lâu đã nổi tiếng với phần mở đầu đầy những pha hành động và rượt đuổi nghẹt thở. Bởi vậy nên khán giả (trừ những ai đến muộn) sẽ được/phải xem opening credits cho dù họ muốn hay không. Nhưng ending credits thì khác, nó chỉ đến khi bộ phim đã kết thúc (hay chí ít cũng có vẻ là đã kết thúc). Là những người rất tiết kiệm thời gian, không hề muốn bỏ phí dù chỉ năm phút cho những thứ vô bổ ấy, đa số khán giả Việt Nam sẽ đứng dậy và lũ lượt ra về ngay khi dòng credit đầu tiên xuất hiện. Câu hỏi đặt ra là: ending credits có đáng để chúng ta kiên nhẫn ngồi lại cho đến phút cuối cùng hay không. Câu trả lời là: Rất đáng.

Cái đáng thứ nhất, ngồi lại xem credits là một hành động tối thiểu để thể hiện sự tôn trọng đối với những người đã góp phần tạo nên một tác phẩm điện ảnh mà chúng ta vừa xem. Nếu một ca sĩ sau khi biểu diễn một bài hát được khen ngợi bằng một tràng vỗ tay, thì những người đứng đằng sau một bộ phim hay cũng xứng đáng được nhận sự trân trọng tương tự. Thật đáng tiếc khi ở Việt Nam chưa có cái gọi là standing ovation - một tập quán đẹp thường thấy ở các liên hoan phim, khi khán giả đồng loạt đứng lên và dành một tràng pháo tay cho bộ phim xuất sắc họ vừa xem. Có một số người tuy rất muốn ngồi lại song vì thấy ngại ngùng trước ánh mắt lạ lẫm của những người ra về hay của nhân viên nhà rạp nên lại thôi. Tại sao nhỉ? Nếu biết việc mình làm là đúng, thì việc gì phải ngại?

Cái đáng thứ hai là “trâu chậm uống nước trong.” Nếu ai từng kiên nhẫn ngồi xem hết credit của Shrek 2 thì chắc hẳn đã từng rất khoái chí khi biết rằng chú Lừa đã lấy ả Rồng và đẻ ra một lũ lừa con có cánh biết phun lửa. Giống như ở Shrek 2, không ít nhà làm phim cố tình đưa vào ending credits một vài chi tiết độc đáo liên quan đến nội dung phim. Porco Rosso, bộ phim hoạt hình của đạo diễn nổi tiếng Hayao Miyazaki, có kết thúc mở, nhưng phần credit lại có giấu một chi tiết tiết lộ cho khán giả về số phận của nhân vật chính. Ý thức được sự nhàm chán của một danh sách toàn tên dài dằng dặc, nhiều êkip làm phim đã bỏ công sức chăm chút cho phần ending credits để biến nó thành một sự ngạc nhiên thú vị cho những người yêu điện ảnh đích thực. Sự bất ngờ ấy có thể là một bài hát khiến khán giả thấy bùi ngùi hay phấn khích (bởi thường những bài hát kết phim bao giờ cũng rất hay), một phần hình ảnh đầy sáng tạo như của Juno, và cũng có thể là một ý tưởng ngộ nghĩnh như trong Cars.

Cái đáng thứ ba là trong phần credits có nhiều thông tin rất thú vị mà nếu chú ý một chút ta sẽ phát hiện ra. Một điều rất quan trọng của credit là thứ tự các bên tham gia làm phim (hay còn gọi là billing). Thông thường thì tên nhà sản xuất được xuất hiện trước tiên, chẳng hạn như A George Lucas Production. Nếu đạo diễn có tên tuổi thì sẽ có thêm dòng A Steven Spielberg film. Đôi khi, những cái tên diễn viên đầu tiên xuất hiện trong credit lại là vai phụ. Trong Superman 1978 cả Gene Hackman và Marlon Brando (vai phụ) đều được ghi danh trước Christopher Reeve (vai chính) vì cả hai là những diễn viên tên tuổi, còn Reeve chỉ mới vào nghề. Việc liệt kê diễn viên còn có nhiều nguyên tắc và cả những ngoại lệ phức tạp nữa mà người viết không thể trình bày hết trong khuôn khổ bài viết này, xin dành lại cho độc giả tự khám phá.

Ngoài ra, ending credits cũng là nơi tiết lộ khá nhiều thông tin như bối cảnh, quy mô và tầm vóc bộ phim. Credits của The Dark Night cho ta biết mỗi diễn viên chính và thứ đều có trợ lý riêng (Assistant to Mr. Ledger, Assistant to Mr. Oldman); Morgan Freeman có cả thợ làm tóc riêng. Điều này cho thấy quy mô tài chính của bộ phim, một điều không thể có ở một bộ phim độc lập kinh phí thấp. Tương tự như vậy, credits của The Fall (đạo diễn Tarsem Singh) cho biết bộ phim được thực hiện một cách cực kỳ công phu, lấy bối cảnh của Nam Phi, Ấn Độ, Anh, Bali, Fiji, Ý, Tây Ban Nha, Séc, Rumani, Trung Quốc, Nam Mỹ, ở mỗi nơi lại có một đơn vị riêng (unit) phục vụ cho quá trình làm phim.

Cái đáng thứ tư, rất đúng với hoàn cảnh Việt Nam, đó là các rạp chiếu bóng ở ta cực kỳ đông đúc và chật chội. Ngồi lại xem credits cũng là một cách rất hay để tránh phải chen nhau khi đi thang máy hay lấy xe ra về…

Có lẽ là có rất nhiều, thậm chí là quá nhiều lý do để trả lời câu hỏi “Tại sao tôi ngồi lại thêm năm phút?”. Nhưng đôi khi cũng chẳng cần một câu trả lời nào hết. Đôi khi bộ phim kết thúc, bỏ lại ta ngồi đó, hoặc ngẩn ngơ, hoặc thở phào một tiếng, quay sang người bạn đi cùng, cứ thế im lặng nhìn nhau và nghe dư âm của bộ phim đang sôi sục trong mình. Đôi khi, không cần phải có lý do.

Bài đăng trên 2! Đẹp số tháng 3/2009

Monday, December 1, 2008

Những ngày hội điện ảnh

Mỗi năm có hàng trăm liên hoan phim (LHP) đều đặn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Lớn có, nhỏ cũng có. Đình đám như Cannes. Hoa lệ như Venice. Thầm lặng như Pordenone. Náo nhiệt như Sundance. Mỗi liên hoan phim đều mang trong mình một sắc màu riêng, từ nghệ thuật, thương mại, cho đến chính trị, nhưng tất cả đã hòa quyện vào nhau để trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống điện ảnh toàn cầu.

Trăm hoa đua nở

Khi mới ra đời, điện ảnh chỉ được coi là một hình thức giải trí không hơn không kém. Nhiều bộ phim sau khi hết thời gian trình chiếu không được lưu giữ mà bị đem đốt để tái sử dụng hàm lượng bạc chứa trong phim (thời đó vẫn dùng phim nitrate rất dễ bắt cháy – một chi tiết rất đáng nhớ trong bộ phim Nuovo Cinema Paradiso). Khi nhắc tới con đường trở thành một bộ môn nghệ thuật của điện ảnh, không thể không nhắc đến Iris Barry, người quản lý Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại ở New York từ 1935. Tin rằng điện ảnh xứng đáng được tôn vinh với tư cách một loại hình nghệ thuật, bà đã đấu tranh để xây dựng một thư viện phim trong bảo tàng, và bắt đầu trình chiếu cho sinh viên và công chúng. Chính điều này đã đặt nền móng cho việc tôn vinh và quảng bá điện ảnh trên đất Mỹ. Trong khi đó, tại châu Âu, liên hoan phim đầu tiên trên thế giới cũng ra đời ở Venice năm 1932. Sau Venice, đến lượt Cannes (1939), cả hai đã khởi đầu cho làn sóng những lễ hội điện ảnh khắp châu Âu trong những thập niên 40 và 50. Sau tám thập kỷ, con số LHP được tổ chức hàng năm trên thế giới ngày nay đã lên tới hơn 1000 (thống kê của British Film).

Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, LHP ngày một trở nên đa dạng cả về quy mô, hình thức và thể loại. Bên cạnh những LHP tầm cỡ thế giới như Cannes là những LHP ở tầm vóc khu vực, và một trong số đó là LHP Châu Á – Thái Bình Dương khá quen thuộc với khán giả nước ta nhờ có một số phim đã tham gia và đoạt giải như Mùa len trâu (2005) và Chuyện của Pao (2006). Có LHP dành cho một thể loại phim (genre) riêng như Pordenone cho phim câm, Annecy cho hoạt hình, Terror Film Fest cho phim kinh dị. Riêng mảng phim độc lập có rất nhiều sự kiện lớn nhỏ khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là LHP Sundance ở Mỹ. Ngoài ra còn có LHP dành cho một số đối tượng nhất định, như LHP của người đồng giới, được tổ chức tại khá nhiều thành phố. Sở dĩ có sự bùng nổ ấy, là vì những người điện ảnh luôn khát khao được khán giả thừa nhận, và khán giả thì luôn mong muốn thưởng thức những điều mới mẻ nền điện ảnh “công nghiệp” Hollywood không thể nào mang lại.

Trong hơn 1000 LHP ấy, con số LHP tầm cỡ chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Danh sách LHP hạng A của FIAPF (Hiệp hội các Nhà sản xuất phim quốc tế) tới nay vẫn chỉ dừng lại ở con số 12, và cũng chỉ ba cái tên trong số đó là thực sự quen thuộc với khán giả: Cannes, Venice, Berlin. Các LHP khác như Thượng  Hải hay Montreal mặc dù đều được xếp hạng A, nhưng xét về “danh vọng” thì vẫn không thể nào sánh bằng “ba ông lớn” kia của châu Âu. Điện ảnh Việt Nam thời gian qua đã gửi phim dự không ít liên hoan và cũng đoạt không ít giải thưởng, nhưng mới chỉ dừng lại ở những LHP khu vực, còn những LHP ở đẳng cấp cao như Cannes hay Venice thì vẫn nằm ngoài tầm với của chúng ta. Báo chí nước ta thường mải mê tung hô những bộ phim đoạt giải mà quên không tìm hiểu uy tín của LHP cũng như giá trị của giải thưởng, mà đôi khi chỉ là một giải phụ không thuộc những hạng mục tranh giải chính thức của LHP.

Nghệ thuật – ngày hội và phiên chợ

Khi mới ra đời, Venice và Cannes đều coi việc thưởng thức, quảng bá và tôn vinh môn nghệ thuật thứ bảy là tôn chỉ; truyền thống ấy vẫn tiếp tục được duy trì cho đến ngày nay, thể hiện qua những giải thưởng cao quý đi cùng với nó. Được tôn vinh ở Cannes, ở Berlin, hay Venice là vinh quang đối với mỗi bộ phim, là sự ghi nhận tài năng và cống hiến đối với những người làm điện ảnh. Nhưng giá trị của LHP không chỉ dừng lại ở đó. Với khán giả, mỗi LHP lại là một ngày hội, đem lại những tác phẩm xuất sắc, những tư tưởng mới lạ, những góc nhìn độc đáo. Ở các nước phát triển, khán giả đặc biệt coi trọng các LHP quốc tế, vì đây không chỉ là dịp để thưởng thức những bộ phim hay mà còn là cơ hội tiếp xúc với những nền điện ảnh còn xa lạ. Ngược lại, với người làm nghệ thuật, LHP quốc tế là cánh cửa đưa tác phẩm của họ nói riêng và điện ảnh nước nhà nói chung vượt khỏi biên giới quốc gia, vươn ra thế giới. Đó là cơ hội quý giá với những nền điện ảnh nhỏ, ít tiếng tăm. Sau một thời gian dài đóng cửa với bên ngoài, thành công liên tiếp của các đạo diễn của thế hệ thứ năm như Trương Nghệ Mưu và Trần Khải Ca tại các LHP lớn đã góp phần khẳng định vững chắc vị thế của điện ảnh Trung Quốc trong làng điện ảnh thế giới. Tương tự như vậy, điện ảnh Iran nhiều năm qua đã khiến người ta phải ngả mũ kính phục với những tác phẩm xuất sắc như Children of Heaven (giành đề cử Oscar), Taste of Cherry (Cành cọ vàng) hay The wind will carry us (Sư tử bạc).

Tuy nhiên không phải chỉ những LHP đình đám như Cannes mới là quan trọng.  Nhiều đạo diễn, diễn viên tên tuổi từng tham dự những LHP ít tiếng tăm hơn, và đó là bệ phóng đưa họ đến với thành công. Năm 1996, một đạo diễn trẻ bỏ 6000$ tiền túi quay bộ phim đầu tay, Following, và ngay lập tức gây tiếng vang tại LHP San Francisco, thu hút sự chú ý của một studio. Anh được mời ký hợp đồng thực hiện một dự án lớn hơn. Bộ phim thứ hai này lập tức giành đề cử Oscar cho kịch bản xuất sắc nhất. Chàng trai 26 tuổi ấy bây giờ là Christopher Nolan, cha đẻ của Dark Knight, bộ phim bom tấn thu về 800 triệu dollar mùa hè năm nay.

Trong một vài thập niên gần đây, làm phim không còn là một chuyện xa vời, độc quyền của các studio lớn nữa. Ngày nay, đạo diễn có thể cho ra đời một bộ phim hay dù chỉ bằng một nguồn kinh phí cực kỳ khiêm tốn. Đây chính là tiền đề cho sự bùng nổ của điện ảnh độc lập (independent film, hay indie), mà Following của Nolan là một ví dụ điển hình. Và đối với điện ảnh độc lập thì LHP phim chính là đích đến đầu tiên. Có nhiều lý do khiến những người làm phim độc lập coi trọng các LHP, dù ở quy mô nhỏ. Thứ nhất, những LHP như Sundance là một sân chơi lớn, và đôi khi là duy nhất của họ. Lý do thứ hai, cũng là lý do quan trọng nhất: những LHP như thế là cánh cửa đưa họ đến với khán giả, không chỉ khán giả dự LHP, mà là khán giả toàn cầu. Nhiều năm trở lại đây những LHP như Sundance đã thành đích đến của các nhà phân phối. Có thể nói, nhà làm phim là một người thợ thủ công, còn LHP là phiên chợ nơi họ rao bán sản phẩm của mình. Đại diện của các hãng phân phối luôn có mặt, xem phim, quan sát phản ứng của khán giả, đánh giá triển vọng của từng bộ phim, khả năng của từng đạo diễn, và cân nhắc có nên mua phim đó để phát hành không. Một đạo diễn phim độc lập từng nói: “Đem phim đi dự liên hoan để làm gì nếu không được chọn và trình chiếu cho cả thế giới xem?”

Tuy nhiên, chính sự xuất hiện của những “kẻ săn phim” như thế đã khiến những LHP lớn càng ngày càng bị thương mại hóa, và Sundance là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Ra đời năm 1978, và phát triển không ngừng suốt hai thập kỷ qua, Sundance trở thành LHP độc lập lớn nhất nước Mỹ, và bởi vậy cũng là một trong những LHP có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới.

Năm 1985 Sundance có khoảng 200 phim đăng ký. Đến năm 2000, con số này đã lên tới hơn 900, và chỉ 16 trong số đó được chọn tranh giải (và bộ phim duy nhất từng giành cả giải ban giám khảo lẫn giải khán giả chính là Three Season của đạo diễn Việt kiều Tony Bùi). Park City, thị trấn tổ chức LHP chỉ có khoảng 6000 dân, nhưng số người tới dự LHP hàng năm thì lên tới 20.000. Đây là nơi không ít đạo diễn tên tuổi của điện ảnh Mỹ đã thành danh, trong đó có Quentin Tarantino và Steven Soderbergh. Không ít bộ phim đã nhờ Sundance mà trở nên nổi tiếng như The Blair Witch Project, Reservoir Dogs, và gần đây nhất là Little Miss Sunshine. Mặc dù vẫn là một “sân chơi lớn” của các nhà làm phim độc lập, song Sundance cũng đã biến thành một “phiên chợ lớn” của các nhà phân phối, trái với mong ước của Robert Redford, người sáng lập, là “tạo lập một thế giới riêng cho đạo diễn, biên kịch, diễn viên có thể rũ bỏ mọi áp lực thương mại để tự do tìm tòi khám phá.” Những cuộc đấu khốc liệt nhất ở Sundance thường không phải là cuộc đấu của nghệ thuật trên màn ảnh, mà lại là cuộc chiến giành quyền phân phối những bộ phim có khả năng thành công về thương mại. Và vì phim độc lập có kinh phí rất thấp so với phim Hollywood chính thống, nếu nó thành công tỉ suất lợi nhuận sẽ cao hơn nhiều – điều ấy khiến cuộc chiến này càng thêm dữ dội.

Bên cạnh tình trạng thương mại hóa, các LHP lớn ngày càng trở thành tâm điểm chú ý của giới truyền thông. Ngay lần tổ chức đầu tiên, LHP Venice đã có Clark Gable và Greta Garbo tới dự. Có thể nói, từ buổi sơ khai ấy, sự hiện diện của các diễn viên lộng lẫy trên thảm đỏ đã là một điều tất yếu ở LHP. Sự tụ hội của hàng trăm ngôi sao từ khắp nơi trên thế giới đã biến những LHP lớn thành miếng mồi ngon cho báo chí, đặc biệt là báo chí lá cải. Người ta nói về scandal Marceau tuột áo ở Cannes, về chuyện Brad Pitt gặp lại Jennifer Aniston ở Venice nhiều hơn là về điện ảnh, và điều đó đang hạ thấp giá trị của những LHP trong mắt người yêu điện ảnh. “Cannes là một sự kết hợp kỳ lạ giữa nghệ thuật điện ảnh và đánh đĩ điện ảnh,” một nhà phê bình đã chua chát thốt lên như thế.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là mặc dù bị thương mại hóa và truyền thông hóa đến tận cùng, Cannes, Venice và Sundance vẫn luôn luôn dành vinh quang cho những người xứng đáng. Những bộ phim được tôn vinh vẫn là đại diện cho cái đẹp, cho nghệ thuật đích thực, hay nói như một nhà phê bình khác: “Cannes đã tự mình tìm được cách cân bằng giữa sự công minh của nghệ thuật và sự điên rồ của thương mại và báo chí.”

Có lẽ vì những liên hoan phim, dù có xảy ra điều gì đi nữa, vẫn luôn là nơi hội tụ của những người làm phim, những người yêu phim, vẫn là nơi họ khát khao chia sẻ cho nhau tình yêu ấy.

Bài đăng trên 2! Đẹp, số tháng 10/2008

Friday, June 6, 2008

Nãi cảm dữ quân tuyệt


Hồi chưa về nhà nghỉ hè, nghe nói ba đại đầu quỷ của điện ảnh Hong Kong là Tsui Hark (Từ Khắc), Ringo Lam (Lâm Lãnh Đông) và Johnnie To (Đỗ Kỳ Phong) đồng đạo diễn một phim, đã thấy trong lòng sôi lên sùng sục. May sao khi về thì vừa đúng lúc ra đĩa, bèn háo hức ngồi xem. Phim hay, ít ra là hay với real Hong Kong fans.

Trong phim, ba nhân vật chính tìm thấy một cỗ quan tài. Trong cỗ quan tài có một bộ hài cốt. Bộ hài cốt mặc một tấm áo kết bằng vàng lá, tính ra có niên đại từ đời Đường. Người ta bảo, tấm kim y kiểu ấy chỉ để mặc cho người mình yêu thương nhất. Trên tấm áo có một bài ca, tôi tra ra thì là nhạc phủ đời Hán. Ngắn thôi, nhưng mà đáng nhớ.

Sơn vô lăng
Giang thủy vị kiệt
Đông lôi chấn chấn hạ vũ tuyết
Thiên địa hợp
Nãi cảm dữ quân tuyệt.

Bao giờ
sông cạn núi mòn
Mùa đông sấm dậy hạ còn tuyết thôi
Bao giờ
trời đất hợp rồi
Thì ta mới chịu cùng người biệt ly.