Wednesday, January 4, 2012

Nhất đại tông sư tái xuất

Trong số các đạo diễn tên tuổi của điện ảnh Hoa ngữ, có lẽ Từ Khắc là người bị nhìn nhận “bất công” nhất trên thước đo nghệ thuật, ít ra là ở Việt Nam. Người mê Vương Gia Vệ, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca thì nhiều; chứ thích, yêu, và trân trọng Từ thì tôi hiếm thấy có mấy ai. Con đường Từ chọn khiến ông dễ chịu thiệt thòi, và lần này cũng vậy.

Sau hơn ba mươi năm theo nghiệp điện ảnh, dòng máu phiêu lưu và thể nghiệm vẫn sục sôi trong huyết quản Từ. Không ai bất ngờ khi ông là lĩnh ấn tiên phong làm bộ phim mainstream đầu tiên của điện ảnh Hoa ngữ bằng công nghệ 3D (dĩ nhiên, trừ phi Sex and Zen được coi là chính thống).

Trái với nhiều dự báo, Long Môn phi giáp không phải là bản remake của Tân Long Môn khách sạn, bộ phim mà vị trí trong danh sách những phim võ hiệp kinh điển đã được xác lập từ khi ra mắt. Xem đây là một phiên bản mới của bộ phim 1992 cũng đúng, mà coi đây là phần hai của nó cũng không sai.

Như Long Môn 1966 của Hồ Kim Thuyên và Tân Long Môn 1992 của chính Từ, Phi giáp lấy một bối cảnh võ hiệp kinh điển: nhiều phe phái giang hồ đụng đầu nhau trong một hắc điếm ở quan ngoại. Phe thứ nhất là đôi hiệp khách Triệu Hoài An (Lý Liên Kiệt) và Lăng Nhạn Thu (Châu Tấn), sát cánh bảo hộ cho Tố Huệ Dung (Phạm Hiểu Huyên), một cung nữ trót mang thai rồng. Phe thứ hai là Tây xưởng, cơ quan tình báo của triều đình, do Đốc chủ thái giám Vũ Hóa Điền (Trần Khôn) cầm đầu. Tây xưởng một mặt muốn truy sát Tố Huệ Dung, mặt khác muốn tiêu diệt Triệu Hoài An do dám công khai chống đối mình. Phe thứ ba gồm ba nhóm nhỏ: cao thủ phi đao Cố Thiếu Đường (Lý Vũ Xuân) với tình cũ là Phong Lý Đao (lại Trần Khôn);  nhóm dũng sĩ Tartar do Bố Lỗ Đô (Quế Luân Mỹ) cầm đầu; ông chủ Long Môn khách sạn và thủ hạ. Họ khác phái nhưng đồng mưu, muốn tìm kiếm Mạc Thủy thành chứa đầy bảo vật bị chôn vùi trong sa mạc, mỗi hoa giáp (60 năm) mới phát lộ một lần trong bão cát.

Nếu so sánh về tiếng tăm của dàn diễn viên thì Phi giáp không hề kém Long Môn, nhưng thực lực diễn xuất thì khó lòng đấu lại: Lý Liên Kiệt có ưu thế về võ thuật nhưng diễn xuất sao bằng Lương Gia Huy; Châu Tấn xuất sắc nhưng trước Lâm Thanh Hà khí chất bất phàm thì cũng phải bái hạ phong; còn ba vai nữ còn lại thì không ai khả dĩ sánh bằng cô chủ quán lẳng lơ Kim Tương Ngọc do Trương Mạn Ngọc thủ vai. Có lẽ Từ Khắc hiểu rõ hơn ai hết, cơ hội có được trong tay một bộ ba xuất thần như Long Môn khi xưa không bao giờ trở lại, nên ông chủ tâm dành phần lớn thời lượng cho các cảnh chiến đấu nhằm khai thác và thử nghiệm tối đa sự kết hợp giữa 3D và võ thuật. Phi giáp bởi thế có rất ít khoảng lặng để diễn viên thể hiện năng lực diễn xuất, mọi nhân vật đều đơn giản, và mang tính điển hình: Triệu Hoài An hiệp khách, Lăng Nhạn Thu si tình, Vũ Hóa Điền tà dị, Phong Lý Đao ma lanh và Bố Lỗ Đô bạo liệt… Như thường lệ, nhân vật nữ của Từ luôn nổi trội, bằng mối thâm tình, bằng sự quyết đoán, bằng nét mạnh mẽ. Ngoại trừ Trần Khôn nổi bật hẳn lên khi khắc họa xuất sắc Vũ Hóa Điền võ công tuyệt đỉnh, tâm kế thâm trầm và tính tình quỷ dị, thì các nhân vật nữ của Phi giáp đều để lại ấn tượng mạnh hơn nhân vật nam – từ Lăng Nhạn Thu đến Cố Thiếu Đường, từ Bố Lỗ Đô tới Tố Huệ Dung. Thậm chí, vai Vạn quý phi của Trương Hinh Dư dù nhỏ xíu song cũng có nét đặc sắc riêng.

Mặc dù vậy, không phải Trần Khôn mà chính 3D mới là diễn viên xuất sắc nhất ở Phi giáp. Có lẽ sau Avatar, Từ Khắc là người thành công nhất trong việc đem công nghệ 3D vào phim, không phải như một thứ chiêu trò hoa dạng, mà như một thủ pháp mang lại giá trị thực sự cho bộ phim. Từ biết rõ khi nào nên 3D, và 3D đến đâu là đủ. Và đúng như dự đoán, võ hiệp là thể loại đặc biệt thích hợp với hình ảnh ba chiều: từng chiêu kiếm, từng ngọn phi đao đều khiến người xem choáng ngợp vì độ thật của nó. Cách biến hóa của những chiêu thức đầy sáng tạo – đặc biệt là những cây phi đao của Cố Thiếu Đường – đã góp phần phát huy tối đa sở trường của công nghệ 3D. Chỉ có điều nhân vật trong Phi giáp đa phần sử kiếm, ít kỳ môn binh khí như Thất kiếm, nếu không hiệu ứng thị giác có lẽ còn ấn tượng hơn nhiều. Dù vậy, những thử nghiệm của Từ lần này cũng đã thành công rực rỡ, mở ra một tương lai đầy hứa hẹn và một không gian sáng tạo mênh mông cho điện ảnh võ thuật.

Sống động là thế, nhưng cảnh 3D đáng nhớ nhất của Phi giáp lại không phải cảnh giao đấu, mà là khi Lăng Nhạn Thu ngồi trên xích sắt ngóng xuống dòng sông chảy xiết, hai bên lau sậy mọc đầy. Không phải ngẫu nhiên mà Từ chăm chút cho khuôn hình “thiết tỏa hoành giang” ấy đến thế. Và cũng không phải ngẫu nhiên, khi thổ lộ chân tình với Triệu Hoài An, Nhạn Thu lại hồi tưởng đến giây phút ấy. Trước giờ, Từ luôn ám ảnh về nỗi cô đơn của những kẻ “nhất nhập giang hồ tuế nguyệt thôi”. Ông không lấy bầu trời tự nhiên mà dựng hẳn một chân trời khác, thảm đạm và ưu uất, như một ẩn dụ lộ liễu về tâm trạng nàng, biến khuôn hình Lăng Nhạn Thu thổi tiêu thành bức tranh về “nhân tại giang hồ”. Cảnh tượng ấy khiến ta nhớ đến ngọn núi vắng giữa trời đêm ở Swordsman II, khi Đông Phương Bất Bại cũng lặng lẽ thổi khúc Tiếu ngạo giang hồ.

Trừ những giây phút trầm lặng hiếm hoi đó, câu chuyện trong Phi giáp chỉ có thể khái quát bằng hai từ náo nhiệt: diễn biến không ngừng và nhanh đến chóng mặt trên nền nhạc hối hả đậm chất kinh kịch, bộ phim bắt người xem phải căng mắt, căng tai theo dõi những tình tiết phức tạp, đan xen, chồng chéo (nhưng rất có lớp lang) trong không gian chật hẹp của khách sạn Long Môn. Phong cách này có thể khó xem với không ít người, nhưng lại rất “đã” với ai quen thuộc với Từ, và với kiểu hài điểm xuyết láu lỉnh, hơi “bựa” của ông: nhân vật đứng trên mô đất thấp nhưng nhất định phải lộn một vòng mới nhảy xuống, đường rất rộng nhưng vẫn phải phi thân qua bờ tường để chạy đi…

Dẫu rằng không sánh được với Tân Long Môn khách sạn, nhưng Long Môn phi giáp đã một lần nữa khẳng định vị thế nhất đại tông sư của Từ Khắc trong dòng phim võ hiệp nói riêng và làng điện ảnh Hong Kong nói chung. Phi giáp với Võ hiệp của Trần Khả Tân rất xứng đáng là hai đỉnh cao của điện ảnh võ thuật năm nay. Mới mẻ về cách tiếp cận (một hướng ngoại, một hướng nội), đẹp tê tái với mỗi khuôn hình, cả hai đã đem đến cho khán giả những giây phút khó quên và báo hiệu một tương lai đầy bất ngờ thú vị cho dòng phim võ hiệp.

Tuesday, December 20, 2011

Ngôi nhà gương của điện ảnh

Một thiếu phụ tóc vàng, mặc bộ đồ thể thao màu vàng viền đen, đứng sừng sững giữa phòng, trên tay là thanh katana đẫm máu, xung quanh la liệt xác chết. Cô là The Bride, được tạp chí Empire bình chọn là một trong 100 nhân vật điện ảnh vĩ đại nhất mọi thời đại. Lấy cảm hứng từ một nhân vật nổi tiếng khác – Lý Tiểu Long – mà bộ đồ vàng đen trong Tử vong du hí đã trở thành huyền thoại, The Bride là minh chứng tiêu biểu cho việc giễu nhại (parody) từ chỗ một thể loại bị coi là ngoại biên, phái sinh, đã hiên ngang bước vào dòng chính thống của điện ảnh thế giới.

Rất khó để khẳng định chính xác, giễu nhại ra đời từ bao giờ trong lịch sử mới ngoài 100 năm nhưng đầy biến động của điện ảnh. Nhưng cũng có thể khẳng định chính xác rằng giễu nhại ra đời từ rất sớm và đã song hành cùng điện ảnh từ những năm tháng đầu tiên của nghệ thuật thứ bảy. Như một nhà phê bình điện ảnh đã nói: nếu Hamlet quan niệm rằng “nghệ thuật mô phỏng cuộc sống” thì giễu nhại mô phỏng chính nghệ thuật và làm méo mó nó, một cách duyên dáng và kỳ quặc, như cách một ngôi nhà gương sẽ làm với hình ảnh của chúng ta.

Điện ảnh là một đối tượng rất rộng và giễu nhại, bởi thế, cũng không kém phần đa dạng. Một bộ phim có thể giễu nhại một phim khác, như The Good, the Bad, the Weird giễu nhại The Good, the Bad, and the Ugly; có thể giễu nhại phong cách của một đạo diễn, như High Anxiety của Mel Brooks với những bộ phim ly kỳ của Hitchcock; giễu nhại một thể loại như Scary Movie với dòng phim kinh dị; thậm chí giễu nhại một hình tượng điện ảnh cụ thể như Humphrey Bogart trong nhiều bộ phim noir trinh thám của thập niên 40 và 50. Ngược lại, giễu nhại có thể là chủ đề/phong cách chính của bộ phim, mà cũng có thể đơn giản chỉ là một trong nhiều thủ pháp được đạo diễn sử dụng trong bộ phim của mình – như gần đây Woody Allen đã làm với Midnight in Paris.

Một nét đặc trưng của giễu nhại là nó khiến khán giả cười kể cả khi họ không hề biết đến (những) bộ phim bị giễu nhại. Khán giả của Scary Movie có thể chưa xem Scream Bay-watch, nhưng họ vẫn thấy gã sát nhân và nhân vật của Carmen Elektra ngộ nghĩnh và lố lăng. Đương nhiên, những ai đã trải qua cảm giác sợ hãi của Scream hay chưa quên hình ảnh vai diễn của Elektra mặc bộ bikini đẫm nước chạy dưới biển lên trong khuôn hình quay chậm thì sẽ thấy Scary Movie vui nhộn hơn nhiều. Đặc trưng thứ hai là, để gợi cho khán giả về đối tượng bị/được bắt chước, phim giễu nhại thường sử dụng những yếu tố có tính biểu tượng như một bài nhạc nền đặc sệt chất Viễn Tây của Morricone hay chiếc mũ rộng vành của Indiana Jones để “cảnh báo” cho người xem về động cơ và đối tượng giễu nhại của bộ phim.

Vì ra đời sau và mô phỏng lại những bộ phim khác (thường là hay hoặc chí ít là có tiếng vang), phim giễu nhại thường bị nhìn nhận một cách khá bất công, bị xem là một thể loại phái sinh, ăn theo và thấp kém, không có giá trị gì đáng kể ngoài việc mua vui cho khán giả. Trên thực tế, giễu nhại vừa có giá trị “giáo dục” và vừa có giá trị phê bình. Để làm được và làm tốt một bộ phim giễu nhại, người đạo diễn phải rất thuần thục phong cách và các thủ pháp của bộ phim gốc. Cảm nhận, nắm vững được một cấu trúc, một thể loại điện ảnh, tái tạo nó từ một góc nhìn khác và giễu nhại nó một cách thành công, điều đó cũng đòi hỏi không ít trí tuệ cũng như năng lực sáng tạo. Hơn nữa, những thủ pháp đặc trưng của một loại hình điện ảnh vừa là thế mạnh những cũng là cái bẫy của khuôn sáo và công thức. Giễu nhại, bằng việc mô phỏng và phóng đại những đặc trưng ấy, đã gián tiếp “cảnh tỉnh”, thách thức các nhà làm phim nỗ lực vượt qua giới hạn của chính mình và của thể loại mà mình theo đuổi.

Trong giễu nhại điện ảnh tồn tại hai thái cực khá rõ rệt mà ta tạm gọi là giễu nhại châm biếm và giễu nhại tán dương. Giễu nhại châm biếm xem tác giả/tác phẩm bị giễu nhại là đối tượng để “tấn công”. Cảnh của Carmen Elektra trong Scary Movie rõ ràng là mỉa mai việc Baywatch tập trung khai thác sự hấp dẫn và phô bày cơ thể diễn viên nhằm lôi cuốn khán giả. Đây là một thủ pháp quen thuộc và dễ gặp trong phim giễu nhại. Nhưng, song song với hình thái này, còn có một phong cách giễu nhại khác kín đáo hơn, khó nhận ra hơn, và ngày càng trở nên nổi trội, đó là giễu nhại tán dương, hay đi xa hơn là giễu nhại tôn vinh. Shaun of the Dead hiển nhiên là nhái lại bộ phim zombie có tiếng là Dawn of the Dead, tuy nhiên khi xem Shaun người ta không thấy động cơ đả kích mà chỉ thấy một cái nhìn vừa hài hước, vừa yêu thích, vừa trìu mến với bộ phim gốc nói riêng và với loạt ba phim zombie của George Romero (hai phim còn lại là Night of the Living DeadDay of the Dead) nói chung. Đi xa hơn nữa là The Good, the Bad, the Weird, nhái lại rất kỹ siêu phẩm Viễn Tây của Sergio Leone không với mục đích nào khác là thể hiện tình yêu mến và trân trọng, qua đó tái khẳng định vị thế tượng đài của The Good, the Bad, and the Ugly trong lịch sử điện ảnh. Không chỉ vậy, một số bộ phim khi được tái hiện qua lăng kính giễu nhại đã cho ra đời các loại hình điện ảnh mới, như rùng rợn hài, kinh dị hài, trinh thám hài… Điều này góp phần xóa nhòa ranh giới giữa các thể loại, và làm phong phú thêm kho tàng điện ảnh thế giới.

Một điều đáng nói nữa là giễu nhại rất thường bị lẫn lộn với trào phúng (satire). Nét khác biệt cơ bản của hai thể loại này được một nhà phê bình tổng kết rất súc tích: “Đối tượng của giễu nhại là những tập quán văn học và điện ảnh còn đối tượng của trào phúng chính là những tập quán của xã hội”. Trong khi động cơ của giễu nhại là sự yêu thích, hài hước hóa, và cùng lắm là châm biếm đối tượng bị giễu nhại, thì trào phúng quyết liệt hơn hẳn khi công kích những thói hư tật xấu của đời sống. Nhưng cũng có không ít trường hợp giễu nhại trào phúng hòa quyện một cách khéo léo qua bàn tay nhào nặn của đạo diễn: từ những năm 1990, Paul Verhoeven, trong Starship Troopers, bằng cách giễu nhại phong cách của truyền hình hiện đại, đã mỉa mai sâu cay yếu tố tuyên truyền của truyền thông hiện đại, tệ phân biệt chủng tộc, cũng như tình trạng bạo lực lan tràn trên phương tiện truyền thông.

Trong dòng phim giễu nhại, có không ít đạo diễn xuất sắc, thậm chí làm nên tên tuổi của mình bằng những bộ phim giễu nhại. Có thể kể ra Mel Brooks với Blazing Saddles, Young Frankenstein, anh em nhà Coen với Fargo, The Big Lebowski, Woody Allen với Play it again Sam, Sleeper. Nhưng trong khuôn khổ hạn hẹp, bài viết chỉ giới thiệu hai tên tuổi nổi bật nhất của giễu nhại đương đại, một của điện ảnh Châu Á và một của Hollywood.

Ông vua không ngai của phim hài Hong Kong, Châu Tinh Trì, là một đại diện tiêu biểu cho sự pha trộn của giễu nhạitrào phúng. Châu, với phong cách mo lei tau (tạm hiểu là “hài nhảm”), giễu nhại hầu hết những thể loại đặc hữu của điện ảnh Hong Kong, từ cổ trang đến võ hiệp, từ Tây du ký đến James Bond. Giễu nhại của Châu được thể hiện một cách hồn hậu và trìu mến, tôn vinh những gì tinh túy nhất Hong Kong đã sản sinh cho điện ảnh và những gì đẹp đẽ nhất điện ảnh đã sản sinh cho thế giới. Chỉ riêng Kungfu Hustle đã giễu nhại từ tiểu thuyết Kim Dung đến phim Như Lai thần chưởng, từ Godfather đến The Shining, từ The Matrix đến Long tranh hổ đấu. Châu thậm chí thường xuyên giễu nhại chính mình bằng cách lặp lại nhiều chi tiết, thủ pháp trong nhiều phim khác nhau. Đồng thời, Châu phúng thích sâu cay và tuyệt không khoan nhượng những thói hư tật xấu của người đời như dục vọng, lừa lọc, bạo lực…

Nếu Đông có Châu Tinh Trì thì Tây có Quentin Tarantino. Cũng như Châu, trước khi là một đạo diễn thì Tarantino là một con nghiện phim, và giễu nhại là cách để anh thể hiện tình yêu ấy. Tất cả những gì anh biết, anh yêu về điện ảnh đều trở thành đối tượng giễu nhại. Nói cách khác, Tarantino giễu nhại điện ảnh nói chung với tư cách một phương tiện (medium) nghệ thuật. Đặc biệt, Tarantino dành cho những bộ phim hạng B, và cho điện ảnh Châu Á một tình yêu và một sự trân trọng hiếm thấy. Có thể thấy trong Kill Bill dấu ấn rõ rệt của phim spaghetti Western, phim yakuza và samurai Nhật Bản, phim võ hiệp cổ trang và võ thuật Hong Kong; còn Deathproof đích thực là một phim hạng B của thập niên 60 với đầy đủ những cái hay, cái đẹp, lẫn cái rởm rít của nó. Cái giỏi của Tarantino, cũng như Châu, là hội tụ tất cả những yếu tố ấy trong một “nồi lẩu” lạ miệng song vẫn hợp khẩu vị của đa số khán giả. Họ đã xóa nhòa đi ranh giới giữa bình dân và cao cấp, giữa ngoại biên và trung tâm, giữa thể loại và chủ lưu. Bằng giễu nhại, Châu, Tarantino, và các nhà làm phim như họ, đã đem đến cho điện ảnh điều mà nhân loại chưa thể đem đến cho xã hội: sự bình đẳng đích thực.

Bài đăng trên Đẹp số Tết 2012

Thursday, June 10, 2010

Mãi mãi Viễn Tây

Ngày 29/3/1993 ở rạp hát Dorothy Chandler, Los Angeles, một người đàn ông tóc bạc, mắt vẫn rất sắc và lưng vẫn rất thẳng dù đã ở tuổi 64, đứng trên sân khấu, trên tay là hai bức tượng vàng của Unforgiven, bộ phim Viễn Tây thứ ba đoạt giải Phim hay nhất trong lịch sử Oscar. Đó là Clint Eastwood, huyền thoại sống của Viễn Tây, dòng phim làm mưa làm gió ở Hollywood những năm 50 và 60 trước khi dần đi vào quên lãng.

Eastwood nói, ông làm Unforgiven để chôn cất thể loại Viễn Tây. Gã cao bồi vô danh một thuở của Sergio Leone nghĩ rằng Viễn Tây đã chết, và thắng lợi của bộ phim cũng không cứu vãn được điều này. Đó chỉ là vũ khúc sau cùng của con thiên nga mà thôi.

Thế nhưng những gì xảy ra vài năm trở lại đây hẳn đã khiến Eastwood mỉm cười rút lại suy nghĩ ấy của mình. Có thể với Unforgiven, ông đã chôn Viễn Tây xuống thật. Nhưng, từ đó, một hạt giống mới đã nảy mầm…

Mầm cây ấy nhú lên một cách khá kỳ lạ năm 2005 với Brokeback Mountain. Khán giả ưa chuộng phim Western truyền thống có lẽ không phải ai cũng sẽ chấp nhận cách xếp loại này, nhưng bất chấp bối cảnh hiện đại và cuộc tình đồng tính giữa Jack và Ennis, tinh thần cốt lõi của bộ phim vẫn là Viễn Tây. Viện Phim Mỹ (AFI) định nghĩa phim Viễn Tây là những bộ phim “lấy bối cảnh miền Tây nước Mỹ và chứa đựng tinh thần, cuộc đấu tranh và sự tiêu biến của miền ranh giới mới”. Và nếu chiếu vào khuôn khổ ấy thì Brokeback Mountain thực sự rất Viễn Tây. Đó vẫn là câu chuyện của những gã cao bồi, vẫn giữa núi rừng hoang dã, vẫn là cuộc đối đầu gai góc giữa con người với thiên nhiên. Nhưng mâu thuẫn cổ điển của phim Viễn Tây (tội phạm và chính quyền, giang hồ và luật pháp) đã được thay thế bởi một hình thái mâu thuẫn mới. Cũng như những người tiên phong khai phá miền Tây, Jack và Ennis đấu tranh để tìm kiếm tự do, đẩy lùi và triệt tiêu các ranh giới. Với di dân, đó là ranh giới vật lý giữa vùng đất đã khai phá và Miền Tây hoang dã. Với hai gã cao bồi của Lý An, đó là thứ ranh giới luân lý giữa họ và xã hội. Những gì diễn ra ở núi Brokeback chính là một minh họa cho nhận định của AFI: “người miền Tây cứ thế tiến lên, bị hấp dẫn bởi sự tự do của những bình nguyên rộng mở và hứa hẹn về một cuộc đời mới.”

Sau hiện tượng Brokeback Mountain hai năm, hạt giống Viễn Tây lại đâm chồi nảy lộc. Bốn bộ phim 3:10 to Yuma, The Assassination of Jesse James by the Coward Robert Ford, There Will Be BloodNo Country for Old Men, mỗi phim một vẻ, tuy không phải tất cả đều mười phân vẹn mười, song đã khiến những người hoài nghi nhất cũng phải suy nghĩ lại về sức sống của điện ảnh Viễn Tây.

Năm 2007 mở đầu với 3:10 to Yuma, làm lại bộ phim cùng tên năm 1957. Về căn bản, đứa con tinh thần của James Mangold là một câu chuyện Viễn Tây kinh điển xoay quanh cuộc đối đầu sinh tử giữa một băng cướp và cộng đồng dân cư miền Tây,  đồng thời là bức tranh tàn nhẫn về quyền năng của những đồng dollar ở xứ sở này. Ben Wade đi cướp vì tiền; Dan Evans nhận lời áp tải y đến nhà tù Yuma vì tiền; người dân ở thị trấn Contention trở súng tấn công cảnh sát giải cứu Wade cũng vì tiền. Thế nhưng giữa tên thủ lĩnh băng cướp sống ngoài vòng pháp luật và gã chủ trại gia súc đòi hỏi công bằng và trật tự lại có chung quan niệm về lòng tự trọng. Với diễn xuất sắc sảo của Russell Crowe và Christian Bale, 3:10 to Yuma đã góp phần hồi sinh, không chỉ bộ phim của nửa thế kỷ trước, mà còn cả một xứ sở, nơi không có đúng, có sai, chỉ có danh dự bất thành văn là chuẩn mực.

Nếu như Mangold hồi sinh một bộ phim cũ thì Andrew Dominic lại hồi sinh một huyền thoại cũ của Viễn Tây – Jesse James. Nhưng The Assassination of Jesse James không xoáy sâu vào khía cạnh bạo lực như các bộ phim trước về gã, mà khai thác và khắc họa một cách chậm rãi và buồn thảm quá trình suy sụp tâm lý của Jesse trong những ngày tháng cuối đời. Kể về Viễn Tây qua lăng kính phản Viễn Tây, cách The Assassination giải mã Jesse James chứng tỏ một điều: vẫn còn đó những góc nhìn mới cho một đề tài cũ.

Nhưng cuộc tái khám phá của Hollywood chưa dừng lại ở đây. Viễn Tây tiếp tục hồi sinh mạnh mẽ dưới ống kính của Paul Thomas Anderson và của anh em nhà Coen. Thoạt nhìn, There Will Be Blood không Viễn Tây cho lắm: không cao bồi, mà cũng không súng sáu. Nhưng sâu trong cốt tủy, Blood vẫn là hơi thở, là nhịp đập của Viễn Tây. Sau đất là vàng, sau vàng là dầu mỏ, xứ sở này luôn cuồng say với những giấc mộng đổi đời của những kẻ khai phá. Blood là cuộc đấu tranh dữ dội không bao giờ ngừng nghỉ giữa tiền và đạo đức, giữa dầu và tôn giáo, giữa con người và thiên nhiên. Ở Blood, ta chứng kiến cái ranh giới của cuộc chinh phục từ khi những di dân đầu tiên đặt chân tới miền Tây cứ thế chầm chậm tiêu tan dưới sức mạnh càn quét của chủ nghĩa tư bản.

Đó là điều cả Joel lẫn Ethan Coen hoài nhớ trong No Country for Old Men. Tuy lấy bối cảnh miền tây Texas những năm 1980, khi ô tô thay thế ngựa và tiểu liên thay thế những khẩu sáu phát, nhưng chủ nhân của bốn giải Oscar 2007 thực chất là một cuốn phim Viễn Tây “trá hình”. Joel và Ethan công khai khiêu chiến với khái niệm Viễn Tây truyền thống khi mang những yếu tố cũ – một nhân vật phản anh hùng, những cuộc đấu súng đẫm máu, miền sa mạc hoang vu – vào thời đại mới. Nơi những giá trị cũ bỗng trở nên lỗi thời. Và những con người cũ như Cảnh sát trưởng Ed Tom Bell bỗng trở thành lạc lõng.

Viễn Tây của Ed Tom Bell có thể không còn đó, nhưng Viễn Tây của điện ảnh thì vẫn ở đây. Nếu bốn bộ phim của 2007 còn chưa đủ cho Clint Eastwood và những ai trót đem lòng mê đắm thể loại này vững tin rằng Viễn Tây không bao giờ chết thì True Grit, với 10 đề cử Oscar năm 2010, đã khẳng định điều ấy. Cũng như 3:10 to Yuma, đây là một bộ phim remake. Có thể Jeff Bridge không xuất sắc như John Wayne trong vai viên cảnh sát già, Rooster Cogburn. Có thể Hailee Steinfield đã qua mặt Kim Darby khi hóa thân thành cô bé Mattie Ross “vạn dặm tầm thù”. Và có thể True Grit đã ra về tay trắng, không đạt được giải gì trong 10 đề cử. Nhưng những điều đó, nói cho cùng, không có gì quá quan trọng. Không xét lại như The Assassination, không đương đại như No Country, cũng không chính trị như Blood, song True Grit đã làm sống dậy Viễn Tây dưới hình hài nguyên thủy nhất của nó. Viễn Tây cả về hình ảnh, ngôn ngữ, lẫn tinh thần, True Grit của anh em nhà Coen đã cho cả thế giới thấy rằng Western là nguồn cảm hứng bất tận của điện ảnh Mỹ đích thực, và sau gần một thế kỷ, bất chấp sự cạnh tranh từ những loại hình điện ảnh “thời thượng” hơn mà Avatar Sex and the City là đại diện, tính hấp dẫn và sức sống của Viễn Tây vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu.

Cuối True Grit, khi hồi tưởng về chuyến phiêu lưu với Cogburn, cô bé Mattie nói: “Chúng tôi đã có, những tháng ngày sôi động.” Với Viễn Tây, nhiều người trong số chúng ta cũng đã trải qua những tháng ngày sôi động. Và chừng nào điện ảnh còn những con người gan góc (true grit) như Ethan Coen và Joel Coen, như Paul Thomas Anderson, như Clinton Eastwood… thì chừng ấy chúng ta còn có quyền mong đợi những tháng ngày sôi động. Với Viễn Tây.